Effect of the red light on the photosynthesis and phenolic accumulation in leaves of Hedyotis corymbosa (L.) Lam
Abstract
Hedyotis corymbosa (L.) Lam a native herbaceous species containing many phenolic compounds is used in traditional medicine and medicinal technology. Phenolic acid, as well as many other secondary metabolites are photosynthetic-derived products. In this research, red LEDs (660 nm) and white fluorescent light were used to investigate the effects of different light sources on the photosynthesis and leaf phenolic compound accumulation of in vitro and ex vitro plants. Red LED (50 umol/m2/sec) promoted the stem elongation without changing plant biomass of in vitro plants. Increasing red LED intensities (from 50 to 100 or 150 umol/m2/sec) decrease maximum photochemical quantum yield of PS II (Fv/Fm) and coefficient of photochemical fluorescence quenching (qP), but stabilized electron transfer (ETR) and coefficient of non-photochemical fluorescence quenching (qN) of in vitro leaves. Under 100 umol/m2/sec of red LED, ex vitro leaf area, carotenoid contents, isolated chloroplast. Hill reaction and total sugar content were significantly reduced in comparison to those parameters from control plants under white light. Ex vitro plants' total carbohydrate contents were not statistically different the total leaf phenolic content of ex vitro plants under red LED light exposure was much higher than that the of control.
MỞ ĐẦU
Tác động của ánh sáng lên thực vật phụ thuộc vào cường độ (số hạt photon) và mức năng lượng ánh sáng (bước sóng). Trong phổ ánh sáng khả kiến, ánh sáng xanh dương và đỏ là hai vùng được diệp lục tố của quang hệ II (PSII) hấp thu mạnh, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất quang hợp. Thực vật phải chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành hóa năng phục vụ cho sự cố định CO. Bên cạnh đó, sự quang tổn hại (photodamage) do ánh sáng dư thừa gây ra luôn là hệ lụy kèm theo và bản thân thực vật có 2 hệ thống “dập tắt” (quenching) các năng lượng dư thừa này: (1) dập tắt theo hướng quang hóa, bằng chính pha sáng với các con đường chuyển điện tử và (2) dập tắt theo hướng không quang hóa, với các sắc tố hấp thụ ánh sáng có mức năng lượng cao1.
Ánh sáng đỏ, thông qua thể nhận phytochrome trong thực vật, có vai trò tín hiệu trong sự kéo dài lóng thân, ra hoa và đáp ứng quang kì ở thực vật. Ở cường độ 120 µmol/m²/giây, ánh sáng đỏ giúp gia tăng hàm lượng enzyme phenylalanine ammonia lyase (PAL) giúp tăng khả năng chống lại sự xâm nhiễm của vi khuẩn trên cây cà chua2. PAL là enzyme chủ chốt trong sự sinh tổng hợp hợp chất phenolic, một nhóm hợp chất biến dưỡng thứ cấp lớn ở thực vật. Các hợp chất phenolic được xem là một nhóm sắc tố, nhóm các phân tử tín hiệu và là chất chống sự tồn tại của các gốc oxy hóa tự do giúp bảo vệ bộ máy quang hợp thực vật trong điều kiện stress ánh sáng. Ngoài ra, phenolic giúp gia tăng độ bền cơ học của vách tế bào, đóng vai trò như một phytoalexin trong sự đáp ứng với các stress sinh học và phi sinh học3. Ảnh hưởng của ánh sáng đỏ LED đơn sắc trên hàm lượng phenolic đã được nghiên cứu ở một vài cây trồng như xà lách, sâm và lúa4,5,6.
Các hợp chất phenolic có hàm lượng cao trong cây Lưỡi Rắn (Hedyotis corymbosa (L.) Lam), một loài thảo dược được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền7. Dịch trích methanol từ cây Lưỡi Rắn cho thấy khả năng kháng viêm, kháng khuẩn, kháng oxy hoá, kháng sự tăng trưởng tế bào ung thư gan ở người và tế bào ung thư phổi ở chuột8. Nghiên cứu trước đây, khi gia tăng cường độ ánh sáng lên 150 µmol/m²/giây làm giảm sinh khối khô nhưng tăng tích lũy hợp chất thứ cấp trong cây in vitro9. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ánh sáng đèn LED với các đỉnh bước sóng chính xác, như một nguồn sáng nhân tạo, để tìm hiểu ảnh hưởng của ánh sáng đỏ 660 nm trên sự quang hợp và tích lũy phenolic ở lá của cây Lưỡi Rắn, nhằm cải tiến phương pháp trồng trọt trong mục đích gia tăng các hợp chất thứ cấp có lợi ở loài cây này.
VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Cây Lưỡi Rắn (Hedyotis corymbosa (L.) Lam) in vitro 10 ngày tuổi với hai cặp lá thật được tăng trưởng từ hột trên môi trường MS, đường 30 g/L, agar 6 g/L ; tăng trưởng trong điều kiện in vitro ở 27 ± 2 C, độ ẩm 65 ± 5 %, dưới ánh sáng huỳnh quang trắng, thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày, cường độ ánh sáng 50 µmol/m²/giây.
Cây Lưỡi Rắn ex vitro với hai cặp lá thật, tăng trưởng từ hột trên đất sạch và phân bò (tỷ lệ 3:1). Các cây được trồng trong phòng tăng trưởng ở điều kiện: 27 ± 2 C, độ ẩm 80 ± 5%, ánh sáng huỳnh quang trắng, thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày, cường độ ánh sáng 100 µmol/m²/giây.
Phương pháp
Khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng đỏ LED 660 nm trên sự tăng trưởng cây Lưỡi Rắn in vitro
Cây Lưỡi Rắn in vitro được đặt nuôi dưới ánh sáng trắng (đèn huỳnh quang, Philips, Hà Lan) hay đỏ LED 660 nm (đèn LED, LAFTRC, Hàn Quốc), với cường độ 50 µmol/m²/giây (được đo bằng máy LI-250A - LI-190R Quantum Sensor, LI-Cor, USA). Sau 4 tuần, chiều cao cây, trọng lượng tươi và trọng lượng khô toàn cây, khả năng nhận ánh sáng tối đa của quang hệ II và tốc độ chuyển điện tử ở cặp lá thứ 5 (tính từ ngọn) được xác định.
Khảo sát ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đỏ LED 660 nm trên sự phát huỳnh quang diệp lục tốa (dlt a) ở lá của cây Lưỡi Rắn tăng trưởng in vitro
Cây Lưỡi Rắn in vitro được đặt dưới ánh sáng đỏ LED ở các cường độ 25, 50, 100 và 150 µmol/m²/giây. Sự phát huỳnh quang diệp lục tố a ở lá thứ 5 (tính từ ngọn) của cây sau 4 tuần chiếu sáng được xác định. Các thí nghiệm trên cây in vitro được thực hiện tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ LED trong Nông – Sinh học (LAFTRC), Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc).
Xử lý ánh sáng đỏ LED 660 nm trên cây Lưỡi Rắn ex vitro
Cây Lưỡi Rắn ex vitro tăng trưởng dưới ánh sáng trắng hay đỏ LED ở cùng cường độ 100 µmol/m²/giây. Diện tích lá, độ mở khẩu và vận tốc quang giải nước; hàm lượng sắc tố, hàm lượng đường, tinh bột và phenolic ở cặp lá thứ 5 (tính từ ngọn) và sinh khối của toàn cây được xác định. Các thí nghiệm trên cây ex vitro được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ cao trong Nông nghiệp (RCHAA) và PTN Sinh lý thực vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG–HCM.
Đo sự phát huỳnh quang diệp lục tốa của lá
Sự phát huỳnh quang dlt a ở lá của cây Lưỡi Rắn được ghi nhận bằng đầu dò huỳnh quang của huỳnh quang kế PAM 2500 (Wazl, Germarny). Các cây in vitro được cho thích nghi trong tối hoàn toàn sau 15 phút bằng kẹp lá DLC-8 (Dark Leaf Clip DLC-8) và cho vào máy trong điều kiện tối và xác định lần lượt hai giá trị huỳnh quang tối thiểu (F) sau 1 phút và giá trị huỳnh quang tối đa (F) sau 1 chớp sáng 5.700 µmol/m²/giây trong 0,1 giây. Ngay sau đó, mẫu lá được thích nghi sáng 10 phút dưới đúng các điều kiện ánh sáng thí nghiệm (sử dụng kẹp lá Leaf – Clip Holder 2030B). Các giá trị huỳnh quang của mẫu (F), giá trị huỳnh quang cực đại (F’) sau 1 chớp sáng 5.700 µmol/m²/giây và giá trị huỳnh quang cực tiểu (F’) trong 5 giây ở ánh sáng đỏ xa (far red, bước sóng 750 nm) lần lượt được ghi nhận theo thời gian. Các giá trị huỳnh quang được tính theo các công thức:
Khả năng nhận ánh sáng tối đa của quang hệ II (PSII) : (giá trị từ 0 đến 1)
Sự dập tắt huỳnh quang diệp lục tố theo hướng quang hóa:
Sự dập tắt huỳnh quang diệp lục tố theo hướng không quang hóa:
Tốc độ chuyển điện tử quang hợp :
(P/P là phần ánh sáng được sử dụng bởi PSII và có giá trị mặc định là 0,5; PAR là cường độ ánh sáng, ETR-Factor là độ hấp thụ ánh sáng và có giá trị là 0,84)10.
Ly trích và xác định hàm lượng sắc tố
0,5 g mẫu lá được cô lập và ly trích trong acetone (80%) ; dịch trích được đo mật độ quang ở các bước sóng 470, 663 và 646 nm. Hàm lượng diệp lục tố a, b và caroten tổng cộng (mg/g trọng lượng tươi) được tính theo các công thức của Wellburn và cs, 199411:
Hàm lượng diệp lục tố a (C) = 12,21.A − 2,81.A
Hàm lượng diệp lục tố b (C) = 20,13.A − 5,03.A
Hàm lượng caroten e tổng cộng C = (1000.A − 3,27.C − 104.C )/198
Trong đó, A, A, A là các chỉ số OD đo được bằng máy quang phổ trong 10 mL dịch chứa sắc tố.
Cô lập lục lạp và đo phản ứng Hill (vận tốc quang giải nước)
Các mẫu lá được nghiền trong hỗn hợp NaCl 0,35 M và Tris 50 mM, pH 8. Hỗn hợp dịch trích được ly tâm 500 vòng/phút (5 phút) và thu dịch nổi. Dịch nổi tiếp tục được ly tâm lần 2 ở 2.000 vòng/phút (5 phút) và thu cặn có chứa lục lạp cô lập. Các thao tác được thực hiện ở nhiệt độ 3 − 5ºC, trong tối. Mật độ lục lạp được xác định bằng buồng đếm hồng cầu Neurban. Tốc độ phản ứng Hill được xác định thông qua sự mất màu của 2,6-dichlorophenol indophenol 0,25 x 10 M (DCIP) trong phản ứng ở bước sóng 600 nm12.
Xác định diện tích lá
Các lá được chụp hình và phân tích diện tích lá nhờ phần mềm LIA for Win32 (LIA32).
Xác định độ mở khí khẩu
Các lá được quét lên mặt dưới một lớp keo cyanoacrylate (pha trong hỗn hợp dung môi toluene và ethyl acetate) và cố định lên lam. Lớp keo cyanoacrylate in hình bề mặt lá với các khí khẩu. Độ mở của các khí khẩu mặt dưới của lá được tính dựa trên kích thước ngang của tiểu khẩu, được đo bằng chương trình LIA32 (dựa trên trắc vi thị kính Leica).
Ly trích và xác định hàm lượng đường tổng số, tinh bột
Các mẫu lá được nghiền trong ethanol tuyệt đối, ly tâm thu dịch nổi; dịch nổi được pha loãng và thực hiện phản ứng màu với phenol và sulfuric acid. Hàm lượng đường (mg/g trọng lượng tươi) được xác định bằng phương pháp đo mật độ quang ở bước sóng 490 nm và dựa theo đường chuẩn sucrose. Phần cặn còn lại được thủy phân bởi perchloric acid, sản phẩm thủy phân được thực hiện phản ứng màu với phenol và sulfuric acid. Hàm lượng đường (mg/g trọng lượng tươi) được xác định bằng phương pháp đo mật độ quang ở bước sóng 490 nm và đường chuẩn glucose13.
Xác định hàm lượng phenolic tổng
Phenolic toàn phần trong lá được định lượng bằng phương pháp Folin-Ciocalteu theo nguyên tắc sự khử thuốc thử Folin-Ciocalteu bởi hợp chất phenol trong môi trường kiềm và tạo ra sản phẩm có màu. Hàm lượng phenolic (mg/g trọng lượng tươi) được xác định ở bước sóng 765 nm theo đường chuẩn gallic acid14.
Xử lý số liệu
Tất cả các thí nghiệm được lặp lại với 6 mẫu/nghiệm thức. Số liệu ghi nhận từ các thí nghiệm được xử lý thống kê nhờ các phần mềm Microsoft Office Excel 2010 và SPSS 11.5 cho Windows. Sự phân hạng, chia nhóm theo công thức Duncan, T-test, dựa trên những khác biệt có ý nghĩa ở mức p ≤ 0,05, các giá trị được biểu hiện bằng các mẫu tự khác nhau kèm theo sau số trung bình.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng của ánh sáng đỏ LED 660 nm trên quang hợp và tăng trưởng của cây Lưỡi Rắn in vitro
Ở cây Lưỡi Rắn in vitro, ánh sáng đỏ LED 50 µmol/m²/giây giúp kéo dài các lóng thân, do đó làm tăng chiều cao cây so với các cây dưới ánh sáng trắng (Table 1); kết quả này cũng tương tự công bố trong các nghiên cứu trên cây atiso và dâu tằm15,16. Theo Hong và cs (2012), ánh sáng đỏ thông qua thể nhận tín hiệu phytochrome cảm ứng sự sinh tổng hợp gibberellin và auxin ở lá, các hormone tăng trưởng này giúp gia tăng sự sinh tổng hợp vách tế bào, dẫn đến sự kéo dài trụ hạ diệp ở Arabidopsis thaliana17. Trong khi đó, số lượng cặp lá và sinh khối khô cây Lưỡi Rắn in vitro không có sự khác biệt ở cả hai điều kiện ánh sáng trắng và đỏ LED sau 4 tuần nuôi cấy (Table 1, Figure 1). Số lượng lá và sinh khối khô là sản phẩm của quá trình cố định CO ở thực vật, các sản phẩm của quá trình quang hợp được tích trữ trong thân và lá có vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển của cây ở giai đoạn sau18. Như vậy, ánh sáng đỏ LED có tác động tương tự như ánh sáng trắng ở cùng cường độ 50 µmol/m²/giây đối với sự tăng trưởng của cây Lưỡi Rắn in vitro sau 4 tuần nuôi cấy.

Cây Lưỡi Rắn
Để đánh giá chính xác ảnh hưởng của ánh sáng đỏ LED trên quang hợp ở cây Lưỡi Rắn, các lá của cây in vitro được đo sự phát huỳnh quang diệp lục tố. Thông qua phép đo huỳnh quang ở lá đã thích nghi tối, tỷ lệ F (độ lệch huỳnh quang)/F (huỳnh quang tối đa) thể hiện khả năng nhận ánh sáng tối đa (hiệu năng quang hóa tối đa) của trung tâm phản ứng của PSII. Tỷ lệ F/F thấp ở lá của cây in vitro tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ LED (F/F = 0,68). Sự suy giảm tỷ lệ này là dấu hiệu tổn hại của PSII, đặc biệt protein D1 nơi đặt cặp phân tử diệp lục tố hoặc do sự mất diệp lục tố ở trung tâm phản ứng10. Trong khi đó, lá cây Lưỡi Rắn in vitro tăng trưởng dưới ánh sáng trắng có tỷ lệ F /F tương tự cây khỏe mạnh từ 0,7 đến 0,8 (Table 1). Theo Hogewoning và cs (2010), tỷ lệ F/F ở lá cây dưa chuột trồng dưới ánh sáng xanh hoặc đỏ đơn sắc luôn thấp hơn các cây trồng dưới ánh sáng kết hợp19, hơn nữa ánh sáng đỏ gây hư hại PSII. Sự tổn hại của bộ máy quang hợp dẫn đến tỷ lệ F/F thấp cũng thấy ở lan hồ điệp tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ so với ánh sáng trắng20.
Bên cạnh đó, sự phát huỳnh quang ở những lá đã thích nghi sáng cho biết tốc độ chuyển điện tử quang hợp (ETR) từ quang hệ II sang quang hệ I (PSI), chỉ số này có mối tương quan tuyến tính với sự đồng hóa carbon ở lá thông qua chu trình Calvin10. Tốc độ chuyển điện tử quang hợp ở lá cây Lưỡi Rắn in vitro tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ LED không khác biệt so với đối chứng, vì vậy trọng lượng khô của toàn cây không khác biệt giữa hai nghiệm thức này (Table 1). Tóm lại, ánh sáng đỏ LED với cường độ 50 µmol/m²/giây làm hư hại và giảm khả năng nhận ánh sáng của PSII, nhưng sự hư hại này không nhiều nên chưa thể làm giảm ETR và sự tích lũy sinh khối khô ở cây in vitro, do đó sự khác biệt về tăng trưởng của cây Lưỡi Rắn dưới hai điều kiện này không rõ rệt.
Chiều cao và trọng lượng khô của toàn cây, hiệu suất lượng tử tối đa ( Fv /Fm ) và tốc độ chuyển điện tử (ETR) của quang hệ II ở lá cây Lưỡi Rắn
| Ánh sáng | Chiều cao cây (mm) | Trọng lượng khô (mg) | Fv/Fm | ETR (µmol electrons/m²/giây) |
| Trắng (ĐC) | 60,0 ± 1,2 | 10,50 ± 0,1 | 0,75 ± 0,01 | 12,18 ± 1,47 |
| Đỏ | 68,7 ± 3,8 * | 10,00 ± 0,1 NS | 0,68 ± 0,05 * | 10,16 ± 1,36 NS |

Năng suất lượng tử tối đa (quantum yield) của PSII (Fv /Fm), vận tốc chuyển điện tử (ETR), sự làm dịu quang hóa (qP) và không quang hóa (qN) của lá cây Lưỡi Rắn
Trong nghiên cứu trước đây, việc gia tăng cường độ ánh sáng từ 50 lên 150 µmol/m²/giây làm giảm sinh khối khô của cây Lưỡi Rắn in vitro9. Dưới ánh sáng đỏ LED, cường độ ánh sáng tăng đã dẫn đến hiện tượng hạ thấp khả năng nhận ánh sáng tối đa của PSII thể hiện qua sự giảm chỉ số F/F ở lá (Figure 2A), kèm theo đó là sự giảm khả năng dập tắt huỳnh quang diệp lục tố a theo hướng quang hóa (qP) (Figure 2 B). Trong con đường dập tắt huỳnh quang diệp lục tố theo hướng quang hóa, các electron từ nước được nhận bởi PSII và chuyển cho PSI trong thông qua chuỗi chuyển điện tử quang hợp1, chỉ số này giảm ở lá cây Lưỡi Rắn cho thấy sự dư thừa năng lượng ở các mức cường độ ánh sáng cao và làm giảm hiệu năng sử dụng quang năng cho chuỗi chuyển điện tử quang hợp. Tuy nhiên, với cường độ ánh sáng 100 hay 150 µmol/m²/giây chưa thể làm thay đổi tốc độ chuyển điện tử quang hợp (Figure 2C), vì năng lượng dư thừa ở PSII còn được dập tắt theo hướng không quang hóa (qN) thông qua sự tỏa nhiệt của lá (Figure 2D). Thông thường, giá trị qN tăng thể hiện sự gia tăng mức độ tỏa nhiệt khi đáp ứng với stress dưới ánh sáng cao. Trong thí nghiệm này, qN không thay đổi ở các mức thay đổi cường độ ánh sáng, cho thấy chưa có dấu hiệu stress ánh sáng. Tốc độ chuyển điện tử quang hợp (ETR) không thay đổi ở các mức cường độ ánh sáng một lần nữa khẳng định các cường độ ánh sáng được sử dụng trong thí nghiệm chưa đủ để gây stress ánh sáng cây Lưỡi Rắn in vitro.
Ảnh hưởng của ánh sáng đỏ LED 660 nm trên khả năng quang hợp, sự tích lũy các hợp chất biến dưỡng sơ cấp và thứ cấp ở lá cây Lưỡi Rắn ex vitro
Khi xử lý cây Lưỡi Rắn ex vitro với ánh sáng ở cường độ bắt đầu hạ thấp khả năng nhận ánh sáng của PSII (100 µmol/m²/giây), các cây tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ LED có diện tích và vận tốc quang giải nước ở lá thấp hơn so với đối chứng (Table 2). Có lẽ sự tổn hại của PSII là nguyên nhân dẫn đến sự giảm khả năng phóng thích oxygen ở lục lạp cô lập từ lá của cây dưới ánh sáng đỏ LED so với đối chứng. Theo Hu và cs (2016), ánh sáng đỏ có vai trò tín hiệu thay đổi dòng ion K và chất tan từ tế bào khẩu sang các tế bào bảo vệ, do đó gây đóng khí khẩu và Nagendran và Lee, (2014) đã ghi nhận sự đóng khí khẩu khi các cây sống trong điều kiện stress2,15. Tuy nhiên, trong thí nghiệm này, ánh sáng đỏ LED không làm thay đổi độ mở khí khẩu mặt dưới của lá cây Lưỡi Rắn (Table 2).
Diện tích lá, độ mở khí khẩu và vận tốc quang giải nước của lục lạp cô lập từ lá cây Lưỡi Rắn
| Ánh sáng | Vận tốc quang giải nước (nmol O2 /triệu lục lạp/phút) | Diện tích lá (cm²) | Độ mở khí khẩu (µm) |
| Trắng (ĐC) | 0,443 ± 0,006 | 1,64 ± 0,08 | 3,30 ± 0,08 |
| Đỏ | 0,384 ± 0,002 * | 1,39 ± 0,05 * | 3,30 ± 0,06 NS |
Các phân tử diệp lục tố và carotenoid nằm trên phức hợp an tenna của quang hệ thống có vai trò thu nhận năng lượng ánh sáng và chuyển cho trung tâm phản ứng, tại đây quang năng được chuyển thành hóa năng thông qua chuỗi chuyển điện tử quang hợp1. Thông thường dưới các stress quang oxi hóa, sự mất các phân tử diệp lục tố là nguyên nhân dẫn đến giảm tỷ lệ F/F10. Tuy nhiên, hàm lượng diệp lục tố a và b ở lá không có sự khác biệt giữa hai nghiệm thức ánh sáng trắng và đỏ LED (Table 3), vậy sự tổn hại của PSII ở lá cây Lưỡi Rắn dưới ánh sáng đỏ LED 100 µmol/m²/giây không phải do sự giảm số lượng phân tử diệp lục tố. Trong khi đó, hàm lượng carotenoid tổng ở lá cây tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ LED (0,68 mg/g trọng lượng tươi) thấp hơn 8% so với đối chứng (0,74 mg/g trọng lượng tươi) và làm tăng tỷ lệ diệp lục tố trên carotenoid (Table 3). Carotenoid đóng vai trò chủ chốt trong sự dập tắt các diệp lục tố bị kích hoạt quá mức khi bị stress ánh sáng cường độ cao thông qua chu trình xanthophyll, giúp giải phóng năng lượng dư thừa của PSII theo con đường không quang hóa1. Theo Mohanty và cs (2016), ánh sáng đỏ là một tín hiệu trong điều hòa sự sinh tổng hợp carotenoid và sự giảm carotenoid ở lá của cây tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ tương tự như ở các cây bị thiếu sáng khi phát triển dưới tán của loài cây khác6.
Hàm lượng sắc tố ở lá cây Lưỡi Rắn
| Ánh sáng | Hàm lượng sắc tố (mg/g trọng lượng tươi) | ||
| Dlt a | Dlt b | Carotenoid | |
| Trắng (ĐC) | 2,05 ± 0,09 | 0,54 ± 0,03 | 0,74 ± 0,03 |
| Đỏ | 2,09 ± 0,05 NS | 0,57 ± 0,02 NS | 0,68 ± 0,01 * |
Hàm lượng đường, hàm lượng tinh bột và phenolic tổng ở lá cây Lưỡi Rắn
| Ánh sáng | Hàm lượng (mg/g trọng lượng tươi) | ||
| Tinh bột | Đường | Hàm lượng phenolic | |
| Trắng (ĐC) | 80,01 ± 5,45 | 25,85 ± 3,64 | 1,56 ± 0,07 |
| Đỏ | 78,04 ± 8,20 NS | 17,69 ± 1,45 * | 3,50 ± 0,16 * |
Kết quả phân tích các hợp chất biến dưỡng cho thấy hàm lượng tinh bột dự trữ ở lá của cây tăng trưởng dưới ánh sáng đỏ LED không đổi so với ánh sáng trắng (Table 4), theo đó, hàm lượng đường giảm song song với sự gia tăng tích lũy phenolic ở lá. Hàm lượng phenolic tổng ở cây thích nghi dưới điều kiện ánh sáng đỏ LED đơn sắc đạt 3,50 ± 0,16 mg/g trọng lượng tươi, tăng gấp 2,1 lần so với đối chứng. Có lẽ lượng đường giảm đã được chuyển hướng để tích lũy các hợp chất phenolic, sự xuất hiện và gia tăng hợp chất phenolic giúp tăng khả năng thu dọn các gốc oxy hóa tự do được sinh ra trong quá trình đáp ứng với stress quang hóa dưới ánh sáng21. Sự gia tăng hàm lượng phenolic khi xử lý ánh sáng đơn sắc cũng được báo cáo tương tự trên cây xà lách4. Có thể, ánh sáng đỏ LED là tín hiệu gia tăng sự tổng hợp các hợp chất phenolic ở cây Lưỡi Rắn, đây là cách đáp ứng của cây để thích nghi dưới điều kiện ánh sáng đơn sắc này.
KẾT LUẬN
Ánh sáng đỏ LED 660 nm ở cường độ 50 µmol/m²/giây giúp cây kéo dài lóng thân nhưng không thay đổi sinh khối của cây Lưỡi Rắn in vitro. Ở cường độ 100 và 150 µmol/m²/giây, ánh sáng đỏ LED 660 nm làm giảm khả năng nhận ánh sáng tối đa (F /F) và sự dập tắt huỳnh quang theo hướng quang hóa (qP) của quang hệ II. Tuy nhiên, sự dập tắt huỳnh quang theo hướng không quang hóa (qN) và tốc độ chuyển điện tử (ETR) vẫn ở mức ổn định. Cây Lưỡi Rắn ex vitro trong ánh sáng đỏ LED ở cường độ 100 µmol/m²/giây có diện tích lá, vận tốc quang giải nước của lục lạp cô lập, hàm lượng carotenoid và đường tổng số ở lá giảm so với cây tăng trưởng dưới sáng trắng. Hàm lượng tinh bột vẫn được duy trì, đồng thời thúc đẩy sự gia tăng hàm lượng phenolic tổng để hỗ trợ cây đáp ứng với điều kiện chiếu sáng này.
Danh mục các từ viết tắt
DCIP : 2,6-dichlorophenol indophenol 0,25x 10-4 M
Dlt : diệp lục tố
ETR : vận tốc chuyển điện tử
Fv/Fm : khả năng nhận ánh sáng tối đa của quang hệ II
LED (Light Emitting Diode ): Diode phát quang
PAL : phenylalanine ammonia lyase
PSII : quang hệ II
qP : hướng quang hóa
qN : hướng không quang hóa
Tuyên bố sung đột lợi ích
Các tác giả đồng ý không có bất kì xung đột lợi ích nào liên quan đến các kết quả đã công bố.
Đóng góp của các tác giả
Lê Anh Tuấn và Seon-Ki Kim góp phần thực hiện các thí nghiệm, xử lý các dữ liệu và viết bản thảo. Phan Ngô Hoang và Đỗ Thường Kiệt góp phần thảo luận các kết quả thí nghiệm, sửa bản thảo.
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn nguồn kinh phí hỗ trợ từ đề tài cấp trường (mã số T2017-50), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. Các thí nghiệm được thực hiện tại TT Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ cao trong Nông nghiệp (RCHAA); Phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, khoa Sinh học – Công nghệ sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG–HCM và TT Ứng dụng Công nghệ LED trong Nông–Sinh học thuộc ĐHQG Chonbuk, Hàn Quốc.