Chemical constituents and alpha-glucosidase inhibitory activity of Ficus pumila
- Faculty of Chemistry, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam
- Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam
Abstract
Phytochemical investigation of Ficus pumila collected in Lam Dong Province led to the isolation of ten compounds comprising four phenolic compounds, 4-hydroxybenzaldehyde (1), methyl 4-hydroxybenzoate (2), vanillic acid (3), 4-hydoxybenzoic acid (4); a furanocoumarin, bergapten (5); three 2-(2-phenylethyl)chromones, 6-hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone (6), 6,7-dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone (7), 6,7-dimethoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl)]chromone (8); and two terpenoids, plumericin (9) and 2,7-dimethyl-2E,4E-octadienedioic acid (10). Their structures were identified by analysis of 1D- and 2D-NMR spectra and comparison of the spectral data with relevant literature. It is the first time compounds 2 and 6-10 have been obtained from the plant species. The anti-hyperglycemic activity of all isolated compounds was evaluated by measuring the inhibitory effect against α-glucosidase. Among them, compounds 2, 3, 7, 8 and 10 showed higher inhibitory activity than the positive control acarbose.
Giới thiệu
Sung thằn lằn có tên khoa học là Ficus pumila L., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á. Cây thuộc dạng dây leo, mọc bò, rễ bám, có mang quả ở các cành dài, thân có mủ trắng, thường được trồng cho bám lên tường hay cây to để làm cảnh và che mát. Tất cả các bộ phận của cây đều được sử dụng trong y học dân gian để chữa bệnh. Quả dùng làm mứt và là một vị thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, sa búi trĩ, tắc tia sữa. Thân, cành và lá chữa phong thấp, đau nhức, thông đại tiểu tiện, tiêu độc, lợi sữa. Rễ chữa đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau dây thần kinh tọa. Nhựa mủ bôi ngoài chữa mụn nhọt, ghẻ lở 1, 2, 3, 4. Thành phần hoá học chủ yếu của cây sung thằn lằn là terpenoid 5, 6, flavonoid 7, sterol 8 và coumarin 9. Các hợp chất này có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, kháng oxy hoá, kháng viêm và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư 4, 10. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả phân lập và xác định cấu trúc của 10 hợp chất bao gồm bốn dẫn xuất phenol, một furanocoumarin, ba dẫn xuất 2-(2-phenylethyl)chromone và hai terpenoid từ cao ethyl acetate của cây sung thằn lằn.
VẬT LIỆU VÀ Phương pháp
Đối tượng nghiên cứu
Thân và rễ cây sung thằn lằn được thu hái tại Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2018, và được TS. Đặng Văn Sơn thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới định danh. Mẫu cây có mã số STL-ĐL-2018, được lưu giữ tại Phòng thí nghiệm Hợp chất tự nhiên và Hóa dược, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM.
Hóa chất và thiết bị
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) ghi trên máy Bruker AV [500 MHz (H) và 125 MHz (C)] với chloroform-d hoặc acetone-d là dung môi, được hiệu chỉnh dựa trên độ dịch chuyển hóa học của dung môi sử dụng 11. Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản silica gel 60 F (250 µm, Merck) hay RP-18 (250 µm, Merck). Các cấu tử trên bản mỏng được phát hiện bằng đèn tử ngoại hay phun xịt với dung dịch vanilin-HSO trong EtOH rồi nung nóng bản ở khoảng 120°C trong 3-5 phút. Sắc ký cột được thực hiện trên silica gel (40-63 µm, Merck) hay RP-18 (Merck). SK lọc gel được thực hiện trên Sephadex LH-20 (GE Healthcare).
Chiết xuất và phân lập chất
Mẫu cây sau khi thu hái được phơi khô, xay nhỏ và trích kiệt (4,5 kg) bằng bộ chiết Soxhlet với EtOAc. Cô quay thu hồi dung môi thu được cao EtOAc (TLE; 63,9 g). Sắc ký cột cao EtOAc trên silica gel với hệ dung môi n-hexane-acetone có độ phân cực tăng dần (0-100%) thu được bảy phân đoạn (TLE1-7).
Sắc ký cột phân đoạn TLE3 (5,2 g) trên silica gel (n-hexane-EtOAc 0-60%) thu được năm phân đoạn (TLE3.1-5). Sắc ký cột phân đoạn TLE3.3 (1,7 g) trên silica gel (n-hexane-CHCl 50-100% rồi n-hexane-isopropanol 0-5%) thu được 1 (4,2 mg). Sắc ký cột phân đoạn TLE3.4 (1,4 g) trên silica gel (n-hexane-CHCl 50-100% rồi n-hexane-isopropanol 0-5%) thu được sáu phân đoạn (TLE3.4.1-6). Tinh chế phân đoạn TLE3.4.2 (233,0 mg) trên silica gel (n-hexane-CHCl 50-100%) thu được 2 (4,6 mg) và 3 (6,1 mg).
Sắc ký cột phân đoạn TLE4 (9,75 g) trên silica gel (n-hexane-acetone 0-100%) thu được bảy phân đoạn (TLE4.1-7). Sắc ký cột phân đoạn TLE4.4 (1,25 g) trên silica gel (n-hexane-EtOAc 0-70%) thu được 10 phân đoạn (TLE4.4.1-10). Sắc ký cột phân đoạn TLE4.4.1 (74,4 mg) trên silica gel (n-hexane-EtOAc 0-50% rồi n-hexane-CHCl 0-100%) thu được 4 (3,6 mg) và 5 (4,7 mg).
Sắc ký cột phân đoạn TLE5 (10,1 g) trên silica gel (n-hexane-acetone 0-70%) thu được bảy phân đoạn (TLE5.1-7). Sắc ký cột phân đoạn TLE5.4 (730 mg) trên silica gel (n-hexane-EtOAc 0-50%) thu được sáu phân đoạn (TLE5.4.1-6). Sắc ký cột phân đoạn TLE5.4.3 (200,0 mg) trên silica gel (n-hexane-CHCl 0-90%) thu được 7 phân đoạn (TLE5.4.3.1-7). Tinh chế phân đoạn TLE5.4.3.1 (20,6 mg) bằng SK lọc gel trên Sephadex LH-20 (CHCl-MeOH 50%) thu được 6 (4,5 mg). Tương tự, tinh chế phân đoạn TLE5.4.3.6 (32,3 mg) bằng SK lọc gel trên Sephadex LH-20 (CHCl-MeOH 50%) thu được 7 (17,1 mg). Sắc ký cột phân đoạn TLE5.5 (510,6 mg) trên silica gel (n-hexane-CHCl 50-100% rồi CHCl-MeOH 0-3%), sau đó Sắc ký cột trên RP-18 (HO-acetone 60-100%) thu được 8 (4,2 mg), 9 (5,3 mg) và 10 (3,6 mg).
4-Hydroxybenzaldehyde (1): ESI-MS m/z: 121,03 [M-H]. H NMR (500 MHz, acetone-d, J tính bằng Hz): δ7,80 (2H, d; J= 8,6; H-2, H-6); 7,01 (2H, d; J= 8,6; H-3, H-5); 9,42 (1H, s, H-7); 9,85 (1H, s, 4-OH). C NMR (125 MHz, acetone-d): δ 130,5 (C-1); 132,8 (C-2, C-6); 116,7 (C-3, C-5); 164,0 (C-4); 191,0 (C-7).
Methyl 4-hydroxybenzoate (2): ESI-MS m/z: 151,04 [M-H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ7,96 (2H, d; J= 8,8; H-2, H-6); 6,86 (2H, d; J= 8,8; H-3, H-5); 3,89 (3H, s, 7-OCH)]. C NMR (125 MHz, CDCl): δ122,9 (C-1); 132,1 (C-2, C-6); 115,4 (C-3, C-5); 160,0 (C-4); 167,2 (C-7); 52,1 (7-OCH).
Vanillicacid (3): ESI-MS m/z: 167,03 [M-H]. H NMR (500 MHz, acetone-d, J tính bằng Hz): δ7,56 (1H, d; J= 1,9; H-2); 6,91 (1H, d; J= 8,2; H-5); 7,59 (1H, dd; J= 8,2; 1,9; H-6); 3,91 (3H, s, 3-OCH)]. C NMR (125 MHz, acetone-d): δ 123,0 (C-1); 113,6 (C-2); 148,1 (C-3); 152,1 (C-4); 115,5 (C-5); 124,9 (C-6); 167,5 (C-7); 56,4 (3-OCH).
4-Hydroxybenzoic acid (4): ESI-MS m/z: 137,02 [M-H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ 7,91 (2H, d; J= 8,8; H-2, H-6); 6,91 (2H, d; J= 8,8; H-3, H-5). C NMR (125 MHz, CDCl): δ 122,7 (C-1); 132,7 (C-2, C-6); 116,0 (C-3, C-5); 162,6 (C-4); 167,7 (C-7).
Bergapten (5): ESI-MS m/z: 217,05 [M+H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ6,27 (1H, d J= 9,8 H-3); 8,15 (1H, dd J= 9,8; 0,7 H-4); 7,13 (1H, t J= 0,8 H-8); 7,02 (1H, dd J= 2,4; 1,0 H-11); 7,59 (1H, d J= 2,4 H-12); 4,27 (3H, s, 5-OCH). C NMR (125 MHz, CDCl): δ161,4 (C-2); 112,8 (C-3); 139,4 (C-4); 149,8 (C-5); 112,9 (C-6); 158,6 (C-7); 94,1 (C-8); 152,9 (C-9); 106,7 (C-10); 105,2 (C-11); 145,0 (C-12) 60,3 (5-OCH).
6-Hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone (6): ESI-MS m/z: 267,10 [M+H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ6,44 (1H, s, H-3); 7,74 (1H, d J= 3,0 H-5); 7,57 (1H, dd J= 9,0 3,0 H-7); 7,73 (1H, d J= 9,1 H-8); 3,31 (2H, t J= 7,6 H-11); 3,41 (2H, t J= 7,5 H-12); 7,62-7,59 (2H, m, H-2', H-6') 7,54-7,51 (3H, m, H-3', H-4', H-5'). C NMR (125 MHz, CDCl): δ 169,5 (C-2); 108,8 (C-3) 179,4 (C-4); 107,9 (C-5); 154,7 (C-6); 123,5 (C-7); 119,2 (C-8); 150,8 (C-9); 123,8 (C-10); 36,0 (C-11); 32,9 (C-12); 139,7 (C-1'); 128,5 (C-2', C-6'); 128,2 (C-3', C-5'); 126,4 (C-4').
6,7-Dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone (7): ESI-MS m/z: 311,13 [M+H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ 6,24 (1H, s, H-3); 7,52 (1H, s, H-5); 6,87 (1H, s, H-8); 2,93 (2H, t; J= 7,8; H-11); 3,06 (2H, t; J= 7,8; H-12); 3,97 (3H, s, 6-OCH ); 3,99 (3H, s, 7-OCH). C NMR (125 MHz, CDCl): δ 168,1 (C-2); 109,6 (C-3); 177,6 (C-4); 104,6 (C-5); 147,8 (C-6); 154,7 (C-7); 99,7 (C-8); 152,8 (C-9); 116,9 (C-10); 36,2 (C-11); 33,3 (C-12); 56,5 (6-OCH); 56,6 (7-OCH); 139,9 (C-1′); 128,8 (C-2′, C-6′); 128,4 (C-3′, C-5′); 126,7 (C-4′).
6,7-Dimethoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl]chromone (8):ESI-MS m/z: 341,14 [M+H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ 6,26 (1H, s, H-3); 7,52 (1H, s, H-5); 6,88 (1H, s, H-8); 2,90 (2H, t; J= 7,7; H-11); 3,00 (2H, t; J= 7,6; H-12); 3,99 (3H, s, 6-OCH);3,97 (3H, s, 7-OCH); 3,78 (3H, s, 4′-OCH); 6,83 (2H, d J= 8,6 H-3′, H-5′); 7,11 (2H, d J= 8,6 H-2′, H-6′). C NMR (125 MHz, CDCl): δ 169,1 (C-2); 109,2 (C-3); 177,6 (C-4); 104,4 (C-5); 148,1 (C-6); 155,2 (C-7); 99,7 (C-8); 153,2 (C-9); 116,4 (C-10); 36,6 (C-11); 32,5 (C-12); 56,6 (6-OCH); 56,7 (7-OCH); 55,4 (4′-OCH); 131,8 (C-1′); 129,4 (C-2′, C-6′); 114,3 (C-3′, C-5′); 149,8 (C-4′).
Plumericin (9): ESI-MS m/z: 291,09 [M+H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ 5,57 (1H, d, J = 5,9, H-1); 7,44 (1H, s, H-3); 4,01 (1H, dt; J= 9,5; 2,2; H-5); 5,65 (1H, dd; J= 5,5; 2,2; H-6); 6,05 (1H, dd;J= 5,5; 2,2; H-7); 3,43 (1H, dd; J= 9,5; 5,9; H-9); 5,10 (1H, s, H-10); 7,16 (1H, qd; J= 7,2; 1,6; H-13); 2,08 (3H, d, J= 7,3; H-14); 3,77 (3H, s, 15-OCH). C NMR (125 MHz, CDCl): δ 102,4 (C-1); 152,8 (C-3); 109,6 (C-4); 38,6 (C-5); 126,6 (C-6); 141,2 (C-7); 104,7 (C-8); 53,8 (C-9); 80,5 (C-10); 127,7 (C-11); 168,3 (C-12); 145,4 (C-13); 16,2 (C-14); 166,8 (C-15); 51,8 (15-OCH).
2,7-Dimethyl-2E,4E-octadiendioicacid (10): ESI-MS m/z: 197,08 [M-H]. H NMR (500 MHz, CDCl, J tính bằng Hz): δ7,26 (1H, d 11,3 H-3); 6,42 (1H, dd J= 15,1 11,4 H-4); 6,08 (1H, dt J= 14,7 7,2 H-5); 2,57 (1H, m, H-6a); 2,39 (1H, m, H-6b); 2,63 (1H, m, H-7); 1,92 (3H, s, H-9); 1,22 (3H, d J= 6,8 H-10). C NMR (125 MHz, CDCl): δ174,3 (C-1); 125,4 (C-2); 140,5 (C-3); 128,3 (C-4); 140,0 (C-5); 36,9 (C-6); 39,3 (C-7); 182,3 (C-8); 12,3 (C-9); 16,7 (C-10).
Thử hoạt tính ức chế α-glucosidase
Việc thử hoạt tính ức chế α-glucosidase được thực hiện theo phương pháp của Kim 12 có điều chỉnh: cho vào ống nghiệm 1,6 mL đệm phosphate (0,01 mM, pH 7,0); 300 µl mẫu (pha trong DMSO). Thêm 20 µL α-glucosidase (10 UI/mL), lắc đều, ủ trong 10 phút tại 37°C. Cho tiếp 20 mL p-nitrophenyl-α-D-glucopyranoside 1,5 mM và ủ trong 30 phút tại 37°C. Ngưng phản ứng bằng cách thêm 1 mL NaCO 0,1 M. Dung dịch sau đó được đo độ hấp thu quang tại bước sóng 405 nm. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần và số liệu được xử lý bằng phần mềm GraphPad Prism 7.
Kết quả VÀ THẢO LUẬN
Bằng phương pháp sắc ký cột trên silica gel, RP-18 và Sephadex LH-20, mười hợp chất (1-10) Figure 1 đã được phân lập từ cao ethyl acetate của cây sung thằn lằn.

Côngthức của hợp chất 1-10
Hợp chất 1: Tinh thể hình kim màu trắng. Phổ H NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng ứng với một nhóm aldehyde [δ 9,42 (1H, s, H-7)], một nhóm OH phenol tự do [δ 9,85 (1H, s, 4-OH)], một vòng benzene 1,4- nhị hoán [δ7,80 (2H, d; J= 8,6 Hz, H-2, H-6); 7,01 (2H, d; J= 8,6 Hz, H-3, H-5)]. Phổ C NMR cho các tín hiệu cộng hưởng ứng với bảy carbon gồm một carbon carbonyl của nhóm aldehyde [δ 191,0 (C-7)] và sáu carbon thơm của vòng benzene trong đó có một carbon mang oxygen [δ 164,0 (C-4)]. Số liệu phổ trên cho thấy hợp chất 1 là 4-hydroxybenzaldehyde, phù hợp với tài liệu tham khảo 13.
Hợp chất 2: Tinh thể hình kim màu trắng. Phổ H và C NMR cho thấy phân tử chứa một vòng benzene 1,4- nhị hoán giống với 1. Tuy nhiên 2 mất đi tín hiệu của một nhóm aldehyde và thay vào đó là tín hiệu của một carbon carbonyl của acid hoặc ester [δ 167,2 (C-7)]. Ngoài ra 2 còn có thêm một nhóm methoxy [δ 3,89 (3H, s, 7-OCH); δ 52,1 (7-OCH)]. Từ số liệu phổ kết hợp với so sánh tài liệu tham khảo 13, 14 cho thấy hợp chất 2 là methyl 4-hydroxybenzoate.
Hợp chất 3: Tinh thể hình kim màu trắng. Phổ H NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng ứng với một vòng benzene 1,2,4- tam hoán [δ 7,59 (1H, dd; J= 8,2; 1,9 Hz, H-6); 7,56 (1H, d; J= 1,9 Hz, H-2); 6,91 (1H, d; J= 8,2 Hz, H-5)] và một nhóm methoxy [δ 3,91 (3H, s, 3-OCH)]. Phổ C NMR cho các tín hiệu cộng hưởng ứng với tám carbon gồm một carbon carboxyl [δ 167,5 (C-7)], sáu carbon thơm của vòng benzene trong đó có hai carbon mang oxygen [δ 152,1 (C-4); 148,1 (C-3)] và một carbon methoxy [δ 56,4 (3-OCH)]. So sánh số liệu phổ trên với tài liệu tham khảo 15 xác nhận hợp chất 3 là vanillic acid.
Hợp chất 4: Tinh thể hình kim màu trắng. So sánh dữ liệu phổ NMR của hợp chất 1 và 4 cho thấy sự tương đồng, tuy nhiên 4 mất đi tín hiệu của một nhóm aldehyde, thay vào đó là tín hiệu của carbon carbonyl của acid hoặc ester [δ 167,7 (C-7)]. Số liệu phổ kết hợp với tài liệu tham khảo 14 cho thấy hợp chất 4 là 4-hydroxybenzoic acid.
Hợp chất 5: Tinh thể hình kim màu trắng. Phổ H NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng ứng với một proton thơm [δ 7,13 (1H, t; J= 0,8 Hz, H-8)], hai proton cis-olefin của một vòng sáu [δ 8,15 (1H, dd; J= 9,8; 0,7 Hz, H-4); 6,27 (1H, d; J= 9,8 Hz, H-3)], hai proton ghép cặp cis của một vòng furan [δ 7,59 (1H, d; J= 2,4 Hz, H-12); 7,02 (1H, dd; J= 2,4; 1,0 Hz, H-11)] và một nhóm methoxy [δ 4,27 (3H, s, 5-OCH)]. Phổ C NMR cho các tín hiệu cộng hưởng ứng với 12 carbon gồm một carbon carbonyl của khung coumarin [δ 161,4 (C-2)], bốn carbon olefin, sáu carbon của một vòng benzene trong đó có ba carbon mang oxygen và một nhóm methoxy. Proton H-4 xuất hiện ở vùng từ trường thấp (δ 8,15) cho thấy C-5 mang nhóm thế O-alkyl (nếu C-5 không mang nhóm thế O-alkyl, H-4 có d ~7,8 ppm) 16. Các số liệu phổ trên cho thấy 5 là một furanocoumarin không mang nhóm thế trên vòng α-pyrone. So sánh số liệu phổ với tài liệu tham khảo 17 xác nhận hợp chất 5 là bergapten.
Hợp chất 6: Tinh thể hình phiến không màu. Phổ H NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng ứng với một vòng benzene 1,2,4- tam hoán [δ 7,74 (1H, d; J= 3,0 Hz, H-5); 7,73 (1H, d; J= 9,1 Hz, H-8); 7,57 (1H, dd; J= 9,0; 3,0 Hz, H-7)], một vòng benzene mang một nhóm thế [d 7,62-7,59 (2H, m, H-2', H-6'); 7,54-7,51 (3H, m, H-3', H-4', H-5')], một proton olefin cô lập [d 6,44 (1H, s, H-3)] và hai nhóm methylene [δ 3,41 (2H, t; J= 7,5 Hz, H-12); 3,31 (2H, t; J= 7,6 Hz, H-11)]. Phổ C NMR cho các tín hiệu cộng hưởng ứng với 17 carbon gồm một carbon carbonyl liên hợp [δ 179,4 (C-4)], hai carbon của một nối đôi C=C mang ba nhóm thế [δ 169,5 (C-2); 108,8 (C-3)], 12 carbon thơm trong đó có hai carbon mang oxygen và hai nhóm methylene. Các số liệu phổ cho thấy hợp chất này là một dẫn xuất 2-(2-phenylethyl)chromone mang một nhóm hydroxy. Tương quan HMBC Figure 2 của các proton H-11, H-12 với C-1′, C-2 xác nhận đơn vị 2-phenylethyl được gắn vào C-2 của khung chromone. Phân tích các số liệu phổ NMR và tương quan HMBC cho thấy hợp chất này là 6-hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone (6), phù hợp với tài liệu tham khảo 18.
Hợp chất 7: Tinh thể hình phiến không màu. Số liệu phổ H và C NMR của hợp chất 7 và 6 cho thấy sự tương đồng, điểm khác biệt là vòng benzene 1,2,4- tam hoán được thay thế bằng vòng benzene 1,2,4,5- tứ hoán [δ 7,52 (1H, s, H-5); 6,87 (1H, s, H-8)], đồng thời có thêm tín hiệu của hai nhóm methoxy [δ 3,97 (3H, s, 6-OCH); 3,99 (3H, s, 7-OCH)]. So sánh số liệu phổ với tài liệu tham khảo 19 cho thấy hợp chất này là 6,7-dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone.
Hợp chất 8: Tinh thể hình kim không màu. Phổ NMR của hợp chất 8 tương tự như hợp chất 7, điểm khác biệt là vòng benzene mang một nhóm thế được thay thế bằng một vòng benzene 1,4- nhị hoán [δ7,11 (2H, d; J= 8,6 Hz, H-2′, H-6′); 6,83 (2H, d; J= 8,6 Hz, H-3′, H-5′)], đồng thời xuất hiện tín hiệu của ba nhóm methoxy [(δ 3,99 (3H, s, 6-OCH); 3,97 (3H, s, 7-OCH); 3,78 (3H, s, 4′-OCH)]. Phân tích các số liệu phổ cho thấy hợp chất này là 6,7-dimethoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl]chromone, phù hợp với tài liệu tham khảo 20.
Hợp chất 9: Tinh thể hình phiến không màu. Phổ H NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng của bốn proton olefin [δ 7,44 (1H, s, H-3); 7,16 (1H, qd; J= 7,2; 1,6 Hz, H-13); 5,65 (1H, dd; J= 5,5; 2,2 Hz, H-6); 6,05 (1H, dd; J= 5,5; 2,2 Hz, H-7)], bốn nhóm methine [δ 5,57 (1H, d; J= 5,9 Hz, H-1); 5,10 (1H, s, H-10); 3,43 (1H, dd; J= 9,5; 5,9 Hz, H-9); 4,01 (1H, dt; J= 9,5; 2,2 Hz, H-5)], một nhóm methoxy [δ 3,77 (3H, s, 15-OCH)] và một nhóm methyl allyl [δ 2,08 (3H, d; J= 7,3 Hz, H-14)]. Phổ C NMR cho thấy tín hiệu cộng hưởng của 15 carbon trong đó có hai carbon carbonyl ester [δ168,3 (C-12) và 166,8 (C-15)], sáu carbon olefin, bốn nhóm methine, một nhóm methyl, một nhóm methoxy và một carbon bậc bốn mang nhóm thế rút điện tử [δ 104,7 (C-8)]. Phổ HMBC Figure 2 cho thấy các tương quan giữa proton H-14 với C-11, C-13; giữa proton H-13 với C-10, C-12, giúp xác nhận vị trí nhóm CH-CH=C tại C-11. Tương quan của proton H-3 với C-1 cho thấy sự hiện diện của cầu nối oxygen giữa C-1 và C-3. Phổ HMBC cũng cho thấy các proton nhóm methoxy và H-3 cùng cho tương quan với carbon carbonyl của ester ở δ 166,8; xác định vị trí nhóm COOCH tại C-4. Các số liệu phổ NMR của hợp chất 9 giống phổ của plumericin 21, 22. Ngoài ra, hợp chất này có = +175,0 (c 0,39 trong MeOH), gần bằng với giá trị của plumericin theo tài liệu tham khảo ( +179, c 14,6 trong CHCl) 21 nên có thể kết luận hợp chất 9 có cùng hóa học lập thể với plumericin
Hợp chất 10: Tinh thể không màu, -9,3 (c 0,38 trong MeOH). Phổ H và C NMR cho tín hiệu cộng hưởng của hai nhóm carboxyl [δ 182,3 (C-8); 174,3 (C-1)], một nối đôi C=C mang hai proton ghép cặp trans [δ 6,42 (1H, dd; J= 15,1; 11,4 Hz, H-4); 6,08 (1H, dt; J= 14,7; 7,2 Hz, H-5); δ 140,0 (C-5); 128,3 (C-4)], một nối đôi C=C tam hoán [δ 7,26 (1H, d; J= 11,3 Hz, H-3); δ 140,5 (C-3); 125,4 (C-2)], một nhóm methine [δ 2,63 (1H, dd; J= 13,5; 6,8 Hz, H-7); δ 39,3 (C-7)], một nhóm methylene [δ 2,57 (1H, dd; J= 14,2; 7,1 Hz, H-6a); 2,39 (1H, dd; J= 14,0; 7,0 Hz, H-6b); δ 36,9 (C-6)] và hai nhóm methyl [δ 1,92 (3H, s, H-9); 1,22 (3H, d; J= 6,8 Hz, H-10); δ 16,7 (C-10); 12,3 (C-9)]. Trong phổ C NMR, nhóm 9-methyl xuất hiện ở vùng từ trường cao (d 12,3 ppm) chứng tỏ carbon này bị che chắn, nghĩa là nối đôi C-2/C-3 có cấu hình E (nếu nối đôi này có cấu hình Z, nhóm methyl này ít bị chắn hơn, δ ~20 ppm) 23, 24. So sánh các số liệu phổ với tài liệu tham khảo 25 cho thấy hợp chất 10 là 2,7-dimethyl-2E,4E-octadiendioic acid

Tương quan HMBC của hợpchất 6 và 9
Các hợp chất 1-10 được khảo sát hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase. Kếtquả cho thấy có năm hợp chất ức chế enzyme mạnh hơn chứng dương acarbose với giá trị IC = 153,9-302,8 µM Table 1. Đối với các hợp chất 1–4,sự hiện diện các nhóm thế –COOCH tại vị trí C-1 (2) làm tăng đáng kể hoạt tính, trong khi nhóm –CHO hay –COOH (1 và 4) lại làm giảm hoạt tính. Hợp chất có nhóm –OCH ở vị trí C-3 thể hiện hoạt tính mạnh hơn so với hợp chất không có nhóm này (3 > 4). Đối với các chất dẫn xuất 2-(2-phenylethyl)chromone (6–8), hai nhóm –OCH ở vị trí C-6 và C-7 trên khung chromone ức chế enzyme hiệu quả hơn dẫn xuất không mang đặc điểm cấu trúc này; hiệu quả ức chế gia tăng khi có nhóm –OCH gắn vào vị trí C-4 trên vòng benzene của dây nhánh 2-phenylethyl (8 > 7 > 6).
Hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các hợp chất 1-10
|
Hợp chất |
IC50 (µM) |
|
4-Hydroxybenzaldehyde (1) |
974,3 ± 15,3 |
|
Methyl 4-hydroxybenzoate (2) |
153,9 ± 16,4 |
|
Vanillic acid (3) |
302,8 ± 10,9 |
|
4-Hydoxybenzoic acid (4) |
-* |
|
Bergapten (5) |
1106,7 ± 25,7 |
|
6-Hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone (6) |
-* |
|
6,7-Dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone (7) |
228,6 ± 8,5 |
|
6,7-Dimethoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl)]chromone (8) |
180,5 ± 0,5 |
|
Plumericin (9) |
-* |
|
2,7-Dimethyl-2E,4E-octadienedioic acid (10) |
205,9 ± 5,3 |
|
Acarbose** |
913,7 ± 19,6 |
Kết luận
Từ cao ethyl acetate của thân và rễ cây sung thằn lằn thu hái ở tỉnh Lâm Đồng, mười hợp chất là 4-hydroxybenzaldehyde (1), methyl 4-hydroxybenzoate (2), vanillic acid (3), 4-hydroxybenzoic acid (4), bergapten (5), 6-hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone (6), 6,7-dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone (7), 6,7-dimethoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl)]chromone (8), plumericin (9) và 2,7-dimethyl-2E,4E-octadienedioic acid (10) đã được phân lập. Đây là lần đầu tiên các hợp chất 2 và 6-10 được báo cáo hiện diện trong cây sung thằn lằn. Trong các hợp chất phân lập được, 2, 3, 7, 8 và 10 thể hiện hoạt tính ức chế α-glucosidase mạnh hơn chứng dương là acarbose.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số 562-2024-18-04.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1D-NMR: One-dimensional nuclear magnetic resonance
2D-NMR: Two-dimensional nuclear magnetic resonance
H NMR: Proton nuclear magnetic resonance
C NMR: Carbon-13 nuclear magnetic resonance
HSQC: Heteronuclear single quantum coherence
HMBC:Heteronuclear multiple bond correlation
: Singlet
d: Doublet
dd: Doublet of doublets
dt: Doublet of triplets
t: Triplet
qd: Quartet of doublets
m: Multiple
Xung đột lợi ích
Nhóm tác giả cam kết không có bất kỳ xung đột lợi ích trong nghiên cứu và công bố này.
Đóng góp của tác giả
Nguyễn Ngọc Chí, Nguyễn Thị Thảo Ly, Nguyễn Thị Lệ Thu, Trịnh Thị Diệu Bình thu thập mẫu cây, ly trích, điều chế cao thô và phân lập chất. Nguyễn Diệu Liên Hoa phân tích dữ liệu phổ và xác định cấu trúc hóa học. Nguyễn Ngọc Chí thử hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase. Trịnh Thị Diệu Bình viết và hoàn chỉnh bản thảo.