A screening study on the urease inhibitory activity of plants collected in Central Highland and Southern Vietnam
- Faculty of Chemistry, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam
- Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam
- Research Lab for Drug Discovery and Development, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam
Abstract
In research on treating gastric ulcers induced by H. pylori bacteria, urease inhibition has proven to be a practical therapeutic approach. In this investigation, 44 medicinal plant species collected from Central Highlands and Southern Vietnam were meticulously selected through three distinct methods to screen their anti-urease activities. At a concentration of 250 µg/mL, fifteen plants exhibited more than 50% inhibition of the enzyme. Subsequently, further assessment of the urease inhibition capability was conducted at many different concentrations, revealing that rhizomes of C. aromatica, stems of C. quadrangulare and S. roxburghii, seeds of C. bonducella, and green tea leaves (C. sinensis) demonstrated the ability to potently inhibit urease with IC50 values of 22.5, 58.5, 80.8, 86.6, and 97.7 µg/mL, respectively, compared to the positive control, hydroxyurea (IC50 = 6.5 µg/mL). Among them, C. aromatica rhizomes exhibited the highest level of inhibition, suggesting a promising prospect for development into a pharmaceutical agent to support the treatment of H. pylori-induced stomach ulcers. The primary objective of this study is to contribute essential data on Vietnamese medicinal plants capable of treating gastric ulcer-related ailments by targeting H. pylori inhibition.
MỞ ĐẦU
Viêm loét dạ dày – tá tràng là hiện tượng lớp niêm mạc dạ dày bị tổn thương do enzyme pepsin và acid được tiết ra từ tế bào thành dạ dày. Đây là căn bệnh mãn tính, có diễn biến chu kỳ, thường tái phát và dễ gây biến chứng nguy hiểm như chảy máu hay loét dạ dày thậm chí có thể phát triển thành ung thư dạ dày dẫn đến ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và công việc của người mắc bệnh1. Tỉ lệ mắc bệnh loét dạ dày – tá tràng chiếm khoảng 10 - 15% dân số thế giới, hằng năm tăng thêm khoảng 0,2% và có khuynh hướng xảy ra ở người trẻ ngày càng nhiều. Bệnh loét tá tràng thường gặp theo tỷ lệ giới tính 3 nam:1 nữ. Mỗi năm có từ 60.000 đến 80.000 ca loét dạ dày mới, trong khi loét tá tràng vào khoảng 200.000 đến 400.000 người/năm và trong 90% các ca bệnh, vi khuẩn Helicobacter pylori được phát hiện có trong niêm mạc dạ dày của bệnh nhân2.
Vi khuẩn H.pylori được xem là nguyên nhân chính của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng. Chúng thường nằm dưới lớp chất nhầy của niêm mạc dạ dày, bám lên trên mặt hoặc chui sâu vào khe giữa các tế bào biểu mô dạ dày. Chúng phát triển trong môi trường pH 5,5 - 8,0 và phát triển tối ưu ở pH trung tính3. Thông thường dạ dày tiết ra acid để tiêu hóa thức ăn đồng thời cũng có một lớp nhày để bảo vệ lớp niêm mạc. Nhưng khi acid dịch vị tăng lên nhiều hoặc lớp nhầy được tiết ra ít hơn nên không đủ bảo vệ niêm mạc thì yếu tố bên ngoài rất dễ tấn công. Khi H.pylori xâm nhập vào dạ dày, sẽ chui qua lớp nhầy, “đánh chiếm” và dễ dàng đi vào lớp niêm mạc dạ dày. Sau đó vi khuẩn sẽ phá hủy bằng cách tiết ra các enzyme và một số độc tố tế bào, từ đó làm tổn thương lớp niêm mạc và gây viêm loét dạ dày. H.pylori có thể tồn tại trong môi trường acid dạ dày, xâm nhập và cư trú ở niêm mạc dạ dày nhờ enzyme urease2, 4.
Enzyme urease (EC 3.5.1.5, urea amidohydrolase) là một loại enzyme thủy phân có chứa ion Ni trong cấu trúc. Enzyme này xúc tác quá trình thủy phân urea thành amoniac và carbon dioxide. Trong cơ thể, amoniac được tạo ra để kiềm hóa môi trường bao bọc xung quanh vi khuẩn để kháng acid của dạ dày và giúp chúng tồn tại được trong môi trường acid dạ dày. Đồng thời, chúng cũng kích thích dạ dày tăng tiết acid làm phá vỡ niêm mạc dạ dày dẫn đến tình trạng viêm loét ngày càng trầm trọng hơn. Vi khuẩn H.pyloricó thể tồn tại trong vật chủ hàng chục năm thậm chí suốt cả đời. Quá trình này kéo dài dẫn đến viêm dạ dày mãn tính, loét dạ dày – tá tràng và có nguy cơ gây ung thư dạ dày2, 4.
Nhiều công trình nghiên cứu tìm kiếm thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày do H.pylori theo các cơ chế nghiên cứu khác nhau đã được thực hiện. Một số chiết xuất từ các dược liệu tự nhiên được báo cáo rất tiềm năng như lá Chè xanh5, lá Dâu tằm6, cây Cần tây7,... Bên cạnh đó, các hoạt chất là thành chất chính như hợp chất pinostropin từ củ Ngải bún8 và curcumin từ củ Nghệ vàng9 được báo cáo có khả năng điều trị vết loét dạ dày rất khả quan. Nghiên cứu này thực hiện chọn lựa và sàng lọc hoạt tính ức chế enzyme urease của 46 cao chiết của 44 loài cây được thu hái tại các tỉnh thành ở Tây Nguyên và Nam Bộ Việt Nam để tìm ra các cây thuốc tiềm năng trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày do H.pylori.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Sàng lọc chọn lựa và thu thập đối tượng nghiên cứu
Đến nay, rất ít công trình nghiên cứu về hoạt tính ức chế enzyme urease của các dược liệu Việt Nam. Quy trình chọn lựa mẫu dược liệu Việt Nam phụ thuộc vào các tiêu chí chọn đặc thù riêng. Yếu tố lựa chọn đầu tiên (PPLC1) là tham khảo các nghiên cứu khoa học trước đây về dược liệu có hoạt tính ức chế enzyme urease, ức chế sự phát triển của vi khuẩn H.pylori và các nghiên cứu in vivo về khả năng chống loét dạ dày ở động vật thực nghiệm. Dựa theo phương pháp chọn lựa này, 17 loài đã được tìm thấy gồm Cần tây (Apium graveolens), Chè xanh (Camellia sinensis), Dâu tằm (Morus alba), Cà dại hoa trắng (Solanum torvum), Dã quỳ (Tithonia diversifolia), Đậu phộng (Arachis hypogaea), Khế chua (Averrhoa carambola), Trâu cổ (Ficus pumila), Sung (Ficus racemosa), Trứng cá (Muntingia calabura), Diệp hạ châu (Phyllanthus urinaria), Riềng (Alpinia officinarum), Ngải bún (Boesenbergia pandurata), Nghệ vàng (Curcuma longa), Ngải đen (Kaempferia parviflora), Mã đề (Plantago major) và Gừng gió (Zingiber zerumbet). Ngoài sự chọn lựa cây thuốc dựa theo các nghiên cứu khoa học liên quan, phương pháp sàng lọc dược liệu theo công dụng dân gian điều trị các bệnh đau dạ dày – tá tràng, các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, lợi tiểu, các bệnh liên quan đến gan, thận (PPLC2). Dựa vào phương pháp sàng lọc này, 15 loài được tìm thấy gồm Cà phê (Coffea arabica), Xáo tam phân (Paramignya trimera), Rau má (Centella asiatica), Vối (Cleistocalyx operculatus), Mật gấu (Gymnanthemun amygdalinum), Keo ong dú (Trigona minor), Chùm lé (Azima sarmentosa), Ngành ngạnh (Cratoxylum prunifolium), Nghệ trắng (Curcuma aromatica), Nghệ lầu (Curcuma xanthorrhiza), Nghệ đen (Curcuma zedoaria), Mướp đắng (Momordica charantia), Gừng dại (Zingiber cassumunar), Đinh lăng (Polyscias fruticosa) và Gùi đỏ (Willughbeia cochinchinensis). Ngoài ra, phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên (PPLC3) cũng được thực hiện góp phần làm phong phú mẫu thử. Các loài thực vật được lựa chọn theo phương pháp này gồm nấm Ngọc cẩu (Cynomorium songarium), Thông đỏ (Taxus wallichiana), Xẩu hổ (Mimosa pudica), Thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica), Sao đen (Hopea odorata), Móc mèo (Caesaipinia bonducella), Săng mã (Carallia brachiata), Trâm bầu (Combretum quadrangulare), Gắm (Gnetum montanum), Cò ke (Microcos paniculata), Duối ô rô (Streblus ilicifolia) và Sến đỏ (Shorea roxburghii) (Table 1).
44 loài thực vật được lựa chọn và thu hái ở các khu vực bao gồm Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng; Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk; Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai; Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Huyện Giồng Trôm, Tỉnh Bến Tre; Huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang; Huyện U Minh Thượng, Tỉnh Cà Mau và Thành phố Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2022. Trong đó có 2 loài sử dụng 2 bộ phận dùng khác nhau. Các mẫu cây nghiên cứu được định danh bởi GS.TS. Trần Công Luận, Trường Đại học Tây Đô, Cần Thơ. Các mẫu được mã hóa và lưu giữ tại Bộ môn Hóa Dược, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM (Table 1).
Hóa chất và thiết bị
Enzyme urease chiết xuất từ Đậu rựa (Canavalia ensiformis) (9002-13-5), urea (57-13-6, >99,5%) và hydroxyurea (127-07-1, 98%) được mua từ Sigma – Aldrich. Phenol đỏ được cung cấp bởi Scharlau, NaHPO.2HO, NaHPO.12HO, DMSO, methanol và ethanol xuất xứ từ Trung Quốc, độ tinh khiết > 99%. Cuvette thủy tinh 1,5 mL của Hellma (Đức), máy quang phổ UV-1800 của SHIMADZU (Nhật Bản).
Điều chế mẫu cao chiết
Các mẫu cây tươi sau khi thu hái được tiến hành phơi khô tự nhiên và cắt nhỏ. Tiến hành trích Soxhlet khoảng 100 g mẫu dược liệu khô với 500 mL dung môi methanol trong 8 h liên tục. Dịch chiết được cô quay dưới áp suất kém thu hồi dung môi, sau đó tiến hành đông khô đến khối lượng không đổi thu được các mẫu cao chiết dùng cho thử nghiệm hoạt tính ức chế enzyme urease.
Nguyên tắc thử hoạt tính ức chế enzyme urease
Thử nghiệm hoạt tính ức chế enzyme urease được thực hiện bằng phương pháp trắc quang. Chất nền urea bị enzyme urease thủy phân sinh ra ammoniac (Figure 1). Hàm lượng ammoniac sinh ra này được xác định bằng cách sử dụng thuốc thử phenol đỏ để xác định hoạt tính của mẫu thử. Phenol đỏ (phenolsulfonphthalein – CHOS) là một chất chỉ thị acid base và là một acid yếu, có màu vàng trong môi trường acid với bước sóng hấp thu cực đại tại 433 nm và màu hồng trong môi trường base với bước sóng hấp thu cực đại tại 556 nm. Lượng ammoniac sinh ra tạo môi trường base và sẽ làm thuốc thử phenol đỏ chuyển hoá thành dạng base liên hợp. Khi mẫu thử có khả năng ức chế enzyme urease sẽ làm giảm hàm lượng ammoniac sinh ra và làm giảm cường độ màu của thuốc thử phenol đỏ của dung dịch. Dựa vào cường độ màu của dung dịch khi có và không có chất ức chế sẽ tính được giá trị phần trăm ức chế enzyme urease của mẫu thử tại nồng độ khảo sát.

Phản ứng thủy phân urea với xúc tác enzyme urease
Quy trình thử hoạt tính ức chế enzyme urease
Thử nghiệm hoạt tính ức chế enzyme urease được thực hiện dựa trên quy trình tham khảo10 và được tối ưu hóa các điều kiện phòng thí nghiệm. Cụ thể, mẫu cao chiết tại các nồng độ thử nghiệm khác nhau được ủ với 50 μL enzyme urease 30 U/mL trong môi trường đệm phosphate pH 7,0 (0,01 M) ở nhiệt độ phòng trong 30 phút. Dung dịch sau đó được thêm tiếp 500 μL urea 60 mM và tiếp tục ủ 20 phút. Sau đó, cho 30 μL thuốc thử phenol đỏ (1 mg/mL) vào hỗn hợp sau phản ứng, lắc đều, ủ trong 10 phút và đo độ hấp thu quang ở bước sóng 556 nm. Mẫu trắng được thực hiện tương tự như mẫu thử nhưng không có enzyme. Mẫu đối chứng được thực hiện tương tự như trên nhưng không cho mẫu thử. Mỗi mẫu cao chiết được được hòa tan trong đệm phosphate pH 7,0 (0,01 M) chứa 0,03% DMSO và pha loãng tại các nồng độ thử nghiệm 250, 100, 50, 25 và 10 μg/mL, thực hiện khảo sát mỗi nồng độ được đo 3 lần. Kết quả được đánh giá thông qua giá trị phần trăm ức chế I (%) và giá trị IC. Trong quy trình này, hydroxyurea được sử dụng làm chất đối chứng dương.
Đánh giá hoạt tính ức chế
Khả năng ức chế của mẫu khảo sát được tính dựa trên phần trăm ức chế I (%) theo công thức:
I (%) = (A đối chứng - A mẫu thử)x100%/A đối chứng
Trong đó, A đối chứng là giá trị mật độ quang của dung dịch không chứa mẫu khảo sát và A mẫu thử là giá trị mật độ quang của dung dịch chứa mẫu khảo sát. Dựa vào giá trị phần trăm ức chế I tại các nồng độ thử nghiệm sẽ tìm được giá trị nồng độ ức chế được 50% enzyme urease trong thí nghiệm này, gọi là giá trị IC.
Tất cả các thí nghiệm được thực hiện lặp lại 3 lần và hoàn toàn ngẫu nhiên. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm Microsoft Excel 365. Sử dụng phương pháp phân tích phương sai một chiều (ANOVA), kết quả được tính dựa trên giá trị trung bình với độ lệch chuẩn (p < 0,05) cho thấy ý nghĩa thống kê.
Danh mục các cây thuốc được chọc lựa và tính chất dược lý của chúng
|
TT |
Tên khoa học |
Tên địa phương |
Bộ phận dùng |
Họ |
Tính chất dược lý |
Nơi thu hái |
Mã lưu trữ |
|
| |||||||
|
1 |
Apium graveolens |
Cần tây |
Toàn cây |
Cần tây (Apiaceae) |
Dịch chiết ethanol có hoạt tính chống loét dạ dày do indomethacin ở chuột thử nghiệm. |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9001 |
|
2 |
Camellia sinensis |
Chè xanh |
Lá |
Chè (Theaceae) |
Dịch chiết lá có khả năng ức chế enzyme urease và H. |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9002 |
|
3 |
Morus alba |
Dâu tằm |
Lá |
Dâu tằm (Moraceae) |
Chiết xuất EtOH 80% từ lá có khả năng ức chế sự phát triển H. |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9003 |
|
4 |
Solanum torvum |
Cà dại hoa trắng |
Quả chưa chín |
Cà (Solanaceae) |
Cao chiết CHCl3 ức chế sự phát triển H . |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9004 |
|
5 |
Tithonia diversifolia |
Dã quỳ |
Lá |
Cúc (Asteraceae) |
Dịch chiết CH2Cl2 và hoạt chất chính tagitinin C có khả năng chống loét dạ dày do ethanol ở chuột thử nghiệm. |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9005 |
|
6 |
Arachis hypogaea |
Đậu phộng |
Vỏ hạt |
Đậu (Fabaceae) |
Vỏ phôi hạt chứa gen UreB như một loại vaccine ăn được nhằm kiểm soát hoặc ngăn chặn nhiễm H. |
Trảng Bàng, Tây Ninh |
SL9006 |
|
7 |
Averrhoa carambola |
Khế chua |
Lá |
Chua me đất (Oxalidaceae) |
Các dịch chiết của lá có hoạt tính chống loét dạ dày do ethanol ở chuột thử nghiệm. |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9007A |
|
8 |
Hoa |
SL9007B | |||||
|
9 |
Ficus pumila |
Trâu cổ |
Thân |
Dâu tằm (Moraceae) |
Dịch chiết ethanol từ lá có khả năng chống loét dạ dày trên các mô hình thử nghiệm khác nhau ở chuột. |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9008A |
|
10 |
Quả |
SL9008B | |||||
|
11 |
Ficus racemosa |
Sung |
Quả chưa chín |
Dâu tằm (Moraceae) |
Dịch chiết lá có khả năng chống loét dạ dày do ethanol ở chuột thử nghiệm. |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9009 |
|
12 |
Muntingia calabura |
Trứng cá |
Lá |
Trứng cá (Muntingiaceae) |
Dịch chiết methanol của lá bảo vệ dạ dày hiệu quả trong thí nghiệm thắt môn vị gây loét dạ dày ở chuột. |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9010 |
|
13 |
Phyllanthus urinaria |
Diệp hạ châu |
Toàn cây |
Diệp hạ châu (Phyllanthaceae) |
Cao chiết CHCl3 có khả năng ức chế, ngăn chặn sự bám dính thành dạ dày của H. pylori, làm giảm mức độ sản xuất interleukin (IL)-8 trong tế bào AGS. |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9011 |
|
14 |
Alpinia officinarum |
Riềng |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Dịch chiết EtOAc làm giảm khả năng sản xuất IL-8, chống viêm loét dạ dày do H. pylori. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9012 |
|
15 |
Boesenbergia pandurata |
Ngải bún |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Cao chiết methanol và hoạt chất chính pinostropin có khả năng chống loét dạ dày do ethanol ở chuột thử nghiệm. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9013 |
|
16 |
Curcuma longa |
Nghệ vàng |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Chiết xuất curcumin từ củ Nghệ ức chế sự phát triển H. pylori, làm giảm mức độ sản xuất interleukin (IL)-8, IL-1β, (TNF)-α và cyclooxygenase (COX)-2 ở niêm mạc dạ dày của bệnh nhân viêm dạ dày do nhiễm H. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9014 |
|
17 |
Kaempferia parviflora |
Ngải đen |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Chiết xuất EtOAc có khả năng ức chế sự phát triển H. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9015 |
|
18 |
Plantago major |
Mã đề |
Toàn cây |
Mã Đề (Plantaginaceae) |
Dịch chiết ethanol có hoạt tính chống loét dạ dày do indomethacin ở chuột thử nghiệm. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9016 |
|
19 |
Zingiber zerumbet |
Gừng gió |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Hợp chất zerumbone từ củ có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi tác động của viêm loét dạ dày do ethanol và ức chế sự phát triển H. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9017 |
|
PPLC2: Lựa chọn theo công dụng dân gian có khả năng điều trị các bệnh liên quan đến dạ dày-tá tràng | |||||||
|
20 |
Coffea arabica |
Cà phê |
Hạt chưa chín |
Thiến thảo (Rubiaceae) |
Dùng trị bệnh tiêu chảy, thận hư, viêm gan. |
Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk |
SL9101 |
|
21 |
Paramignya trimera |
Xáo tam phân |
Rễ |
Cam (Rutaceae) |
Dùng trị bệnh xơ gan cổ trướng, ung thư gan, đại tràng |
Trảng Bom, Đồng Nai |
SL9102 |
|
22 |
Centella asiatica |
Rau má |
Toàn cây |
Hoa tán (Apiaceae) |
Dùng trị bệnh đau dạ dày, viêm thấp khớp |
Bình Chánh, Hồ Chí Minh |
SL9103 |
|
23 |
Cleistocalyx operculatus |
Vối |
Nụ hoa |
Sim (Myrtaceae) |
Dùng kháng viêm, trị khó tiêu và rối loạn tiêu hóa |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9104 |
|
24 |
Gymnanthemun amygdalinum |
Mật gấu |
Lá |
Cúc (Asteraceae) |
Dùng trị bệnh viêm gan, đau dạ dày, nhuận tràng |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9105 |
|
25 |
Trigona minor |
Keo ong dú |
Keo |
Ong mật (Apidae) |
Dùng trị bệnh đau dạ dày |
Giồng Trôm, Bến Tre |
SL9106 |
|
26 |
Azima sarmentosa |
Chùm lé |
Thân |
Thứ mạt (Salvadoraceae) |
Dùng trị đau bao tử, lợi tiểu. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9107 |
|
27 |
Cratoxylum prunifolium |
Ngành ngạnh |
Thân |
Ban (Hypericaceae) |
Dùng trị viêm ruột, tiêu chảy |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9108 |
|
28 |
Curcuma aromatica |
Nghệ trắng |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Dùng trị bệnh viêm gan, tiêu chảy và các vấn đề về dạ dày. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9109 |
|
29 |
Curcuma xanthorrhiza |
Nghệ lầu |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Dùng trị các bệnh về dạ dày, tiêu chảy, gan và thận. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9110 |
|
30 |
Curcuma zedoaria |
Nghệ đen |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Dùng trị bệnh về dạ dày. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9111 |
|
31 |
Momordica charantia |
Mướp đắng |
Quả |
Bầu bí (Cucurbitaceae) |
Dùng trị đau dạ dày. |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9112 |
|
32 |
Zingiber cassumunar |
Gừng dại |
Củ |
Gừng (Zingiberaceae) |
Dùng trị bệnh loét dạ dày – tá tràng, tiêu chảy và rối loạn đường ruột |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9113 |
|
33 |
Polyscias fruticosa |
Đinh lăng |
Củ |
Cuồng (Araliaceae) |
Dùng làm thuốc bổ chữa tiêu hóa kém, trị bệnh trị sỏi thận và khó tiểu |
Phú Quốc, Kiên Giang |
SL9114 |
|
34 |
Willughbeia cochinchinensis |
Gùi đỏ |
Thân |
Trúc đào (Apocynaceae) |
Dùng trị tiêu chảy, lợi tiểu. |
Phú Quốc, Kiên Giang |
SL9115 |
|
PPLC3: Lựa chọn ngẫu nhiên | |||||||
|
35 |
Cynomorium songarium |
Nấm ngọc cẩu |
Củ |
Nấm Malta (Cynomoriaceae) |
Dùng để tăng cường sinh lý, trị nhức mỏi, viêm khớp và bổ thận |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9201 |
|
36 |
Taxus wallichiana |
Thông đỏ |
Vỏ thân |
Thanh tùng (Taxaceae) |
Dùng trị bệnh hen suyễn |
Đà Lạt, Lâm Đồng |
SL9202 |
|
37 |
Mimosa pudica |
Xẩu hổ |
Lá |
Legumes (Họ Đậu) |
Dùng trị bệnh đái tháo đường, chống co giật và trầm cảm |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9203 |
|
38 |
Pouzolzia zeylanica |
Thuốc dòi |
Lá |
Tầm ma (Urticaceae) |
Dùng trị đau họng, ho khan, tiêu viêm và viêm mủ da |
Thủ Đức, Hồ Chí Minh |
SL9204 |
|
39 |
Hopea odorata |
Sao đen |
Quả |
Dầu (Dipterocarpaceae) |
Dùng trị vết thương và tiểu không tự chủ |
Quận 2, Hồ Chí Minh |
SL9205 |
|
40 |
Caesaipinia bonducella |
Móc mèo |
Hạt |
Vang (Caesalpiniaceae) |
Dùng trị các chứng viêm nhiễm, bệnh đái tháo đường, rối loạn tim mạch và ung thư |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9206 |
|
41 |
Carallia brachiata |
Săng mã |
Thân |
Đước (Rhizophoraceae) |
Dùng chữa lành vết thương, trị loét miệng và viêm họng |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9207 |
|
42 |
Combretum quadrangulare |
Trâm bầu |
Thân |
Trâm bầu (Combretaceae) |
Dùng để tẩy giun và trị tiêu chảy |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9208 |
|
43 |
Gnetum montanum |
Gắm |
Lá |
Dây gắm (Gnetaceae) |
Dùng trị bệnh viêm khớp, gút và viêm phế quản |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9209 |
|
44 |
Microcos paniculata |
Cò ke |
Thân |
Đay (Tiliaceae) |
Dùng trị bệnh cảm lạnh, sổ mũi và cầm máu |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9210 |
|
45 |
Streblus ilicifolia |
Duối ô rô |
Thân |
Dâu tằm (Moraceae) |
Dùng chữa mụn nhọt, tiêu độc và làm đẹp da |
Tịnh Biên, An Giang |
SL9211 |
|
46 |
Shorea roxburghii |
Sến đỏ |
Thân |
Dầu (Dipterocarpaceae) |
Dùng trị bệnh kiết lỵ |
Phú Quốc, Kiên Giang |
SL9212 |
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thử nghiệm sàng lọc hoạt tính ức chế enzyme urease
Tất cả các cao chiết methanol của 44 loài thực vật được thử hoạt tính ức chế enzyme urease tại nồng độ 250 μg/mL. Trong 19 cao chiết của 17 loài được lựa chọn theo PPCL1, có 7 cao chiết (chiếm 37,8%) có khả năng ức chế hơn 50 % enzyme (Figure 2, Table 2). Cao chiết lá Chè xanh (C. sinensis) ức chế enzyme mạnh nhất với 89,5%, điều này chứng minh phương pháp nghiên cứu này phù hợp với công bố trước đây5. Theo PPCL2, đã tìm thấy 4/15 loài (chiếm 26,7%) có khả năng ức chế 50% enzyme. Hoạt tính ức chế enzyme urease của củ Nghệ trắng (C. aromatica) thể hiện tốt nhất, ở nồng độ 250 μg/mL ức chế 86,5%. (Figure 3, Table 2) cho thấy tiềm năng của củ Nghệ trắng trong các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến khả năng điều trị bệnh viêm loét dạ dày do vi khuẩn H.pylori gây ra. Đối với PPLC3, 4/12 cao chiết (chiếm 33,3%) có khả năng ức chế hơn 50% enzyme. Thân Trâm bầu (C. quadrangulare) và thân Sến đỏ (S. roxburghii) có tiềm năng ức chế enzyme này rất tốt với giá trị phần trăm ức chế lần lượt là 90,4 và 83,2% (Figure 4, Table 2). Tóm lại, thử nghiệm sàng lọc khả năng điều trị bệnh viêm loét dạ dày do H.pylori thông qua mô hình thử nghiệm ức chế enzyme urease của 44 loài đã tìm thấy 15 loài có tiềm năng ức chế hơn 50% enzyme urease ở nồng độ 250 μg/mL để thử nghiệm đánh giá sâu hơn.

Phần trăm ức chế (I) enzyme urease của cao chiết từ các loài được lựa chọn theo PPLC1 tại nồng độ thử nghiệm 250 µg/mL

Phần trăm ức chế (I) enzyme urease của cao chiết từ các loài được lựa chọn theo PPLC2 tại nồng độ thử nghiệm 250 µg/mL

Phần trăm ức chế (I) enzyme urease của cao chiết từ các loài được lựa chọn theo PPLC3 tại nồng độ thử nghiệm 250 µg/mL
Phần trăm ức chế (I) enzyme urease của 46 cao chiết tại nồng độ thử nghiệm 250
|
TT |
Mẫu cao chiết sàng lọc |
I (%) | |
|
Các loài được lựa chọn theo PPCL1 | |||
|
1 |
Chè xanh |
Lá |
89,5 ± 2,9 |
|
2 |
Khế chua |
Lá |
65,8 ± 1,0 |
|
3 |
Nghệ vàng |
Củ |
54,0 ± 1,6 |
|
4 |
Trâu cổ |
Thân |
53,8 ± 4,2 |
|
5 |
Ngải đen |
Củ |
52,6 ± 1,3 |
|
6 |
Đậu phộng |
Vỏ hạt |
55,2 ± 1,3 |
|
7 |
Khế chua |
Hoa |
50,2 ± 2,6 |
|
8 |
Mã đề |
Toàn cây |
23,9 ± 2,9 |
|
9 |
Trâu cổ |
Quả |
22,5 ± 1,0 |
|
10 |
Dâu tằm |
Lá |
21,9 ± 2,7 |
|
11 |
Trứng cá |
Lá |
8,6 ± 1,4 |
|
12 |
Sung |
Quả chưa chín |
7,2 ± 3,4 |
|
13 |
Diệp hạ châu |
Toàn cây |
5,9 ± 0,8 |
|
14 |
Ngải bún |
Củ |
5,8 ± 1,7 |
|
15 |
Dã quỳ |
Lá |
5,2 ± 1,1 |
|
16 |
Riềng |
Củ |
5,0 ± 3,0 |
|
17 |
Cà dại hoa trắng |
Quả chưa chín |
4,1 ± 2,6 |
|
18 |
Cần tây |
Toàn cây |
3,8 ± 2,8 |
|
19 |
Gừng gió |
Củ |
3,1 ± 1,2 |
|
Các loài được lựa chọn theo PPCL2 | |||
|
20 |
Nghệ trắng |
Củ |
86,5 ± 1,8 |
|
21 |
Nghệ đen |
Củ |
56,9 ± 2,5 |
|
22 |
Gừng dại |
Củ |
52,1 ± 3,5 |
|
23 |
Mướp đắng |
Quả |
52,0 ± 2,6 |
|
24 |
Ngành ngạnh |
Thân |
44,7 ± 5,4 |
|
25 |
Vối |
Nụ hoa |
17,5 ± 1,5 |
|
26 |
Keo ong dú |
Keo |
16,5 ± 1,8 |
|
27 |
Cà phê |
Hạt chưa chín |
10,9 ± 1,5 |
|
28 |
Rau má |
Toàn cây |
9,9 ± 1,2 |
|
29 |
Xáo tam phân |
Rễ |
9,8 ± 0,1 |
|
30 |
Chùm lé |
Thân |
8,9 ± 3,5 |
|
31 |
Mật gấu |
Lá |
8,8 ± 3,9 |
|
32 |
Gùi đỏ |
Thân |
7,0 ± 2,1 |
|
33 |
Nghệ lầu |
Củ |
5,1 ± 1,8 |
|
34 |
Đinh lăng |
Củ |
4,8 ± 1,7 |
|
Các loài được lựa chọn theo PPCL3 | |||
|
35 |
Trâm bầu |
Thân |
90,4 ± 1,0 |
|
36 |
Sến đỏ |
Thân |
83,2 ± 1,9 |
|
37 |
Móc mèo |
Hạt |
75,9 ± 3,5 |
|
38 |
Sao đen |
Quả |
58,5 ± 1,6 |
|
39 |
Cò ke |
Thân |
31,5 ± 0,9 |
|
40 |
Xẩu hổ |
Lá |
14,7 ± 2,8 |
|
41 |
Săng mã |
Thân |
12,6 ± 2,8 |
|
42 |
Duối ô rô |
Thân |
10,6 ± 1,1 |
|
43 |
Gắm |
Lá |
5,6 ± 2,2 |
|
44 |
Thông đỏ |
Vỏ thân |
5,2 ± 1,3 |
|
45 |
Thuốc dòi |
Lá |
4,2 ± 3,1 |
|
46 |
Nấm ngọc cẩu |
Củ |
3,6 ± 0,5 |
|
Hydroxyurea* |
92,9 ± 0,3 | ||
Các cao chiết tiềm năng được thử nghiệm ở nồng độ thấp hơn 100, 50, 25 và 10 µg/mL. Tại nồng độ 100 µg/mL, 15 cao chiết này đều có khả năng ức chế enzyme và 5/15 mẫu ức chế hơn 50% enzyme urease. Tại nồng độ 50 và 25 µg/mL, 15 cao chiết đều có khả năng ức chế enzyme và có 1 mẫu ức chế hơn 50% enzyme urease. Tại nồng độ 10 µg/mL, có 6/15 mẫu cây có khả năng ức chế enzyme này (Table 3). Kết quả đánh giá cho thấy cao chiết methanol của củ Nghệ trắng (C. aromatica) có hoạt tính mạnh nhất với giá trị IC là 22,5 µg/mL, so với chất đối chứng dương hydroxyurea (IC = 6,5 µg/mL). Tiếp theo đó là các cao chiết methanol của thân Trâm bầu (C. quadrangulare), thân Sến đỏ (S. roxburghii), lá Chè xanh (C. sinensis) và hạt Móc mèo (C. bonducella) với IC lần lần là 58,5, 80,8, 86,6 và 97,7 µg/mL. Trong khi đó, 10/15 mẫu cây còn lại có hoạt tính trung bình với giá trị IC từ 170 - 240µg/mL. Kết quả hoạt tính này kết hợp với PPLC1 cho phép đề nghị củ Nghệ trắng, vỏ hạt Đậu phộng, lá và hoa Khế chua, thân Trâu cổ, củ Nghệ vàng và củ Ngải đen ức chế sự phát triển vi khuẩn H.pyloritheo cơ chế phụ thuộc vào enzyme urease. Theo PPLC2, quả Sao đen, củ Gừng dại và quả Mướp đắng được lựa chọn có thể điều trị bệnh về viêm loét dạ dày và các bệnh liên quan đường tiêu hóa có thể theo cơ chế ức chế enzyme urease. Đối với PPLC3, thân Trâm bầu, thân Sến đỏ và hạt Móc mèo là ba loài cây mới lần đầu tiên được phát hiện có khả năng ức chế enzyme urease.
Tìm hiểu thành phần hóa học các dược liệu có tác dụng ức chế enzyme urease mạnh (IC < 100µg/mL) cho thấy các dược liệu Trâm bầu, củ Nghệ trắng, hạt Móc mèo có thành phần chính là terpenoid50, 51, 52, 53, 54, 55, 56. Lá Chè xanh chứa hàm lượng lớn các hợp chất flavonoid46, 57 và diarylheptanoid được tìm thấy rất nhiều trong củ Nghệ vàng (C. longa)58 và củ Nghệ trắng (C. aromatica)52, 53. Các hợp chất này được dự đoán rất có tiềm năng trong việc hỗ trợ và điều trị các bệnh viêm loét dạ dày do nhiễm khuẩn H.pylori. Điển hình, hợp chất diarylheptanoid (-)-hannokinol từ củ Nghệ trắng (C. aromatica) đã được báo cáo ức chế enzyme urease với giá trị IC 244,4 µM59. Bên cạnh đó, cây Sến đỏ chưa được nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Trong số các loài được tìm thấy có hoạt tính, ngoài lá Chè xanh đã được chứng minh có tác dụng ức chế urease trong các nghiên cứu trước đây, bốn loài còn lại là lần đầu tiên được đánh giá tác dụng ức chế enzyme urease cũng như ức chế vi khuẩn H.pylori.
Kết quả hoạt tính ức chế enzyme urease của 15 cao chiết từ cây thuốc Việt Nam
|
TT |
Mẫu cao chiết sàng lọc |
Phần trăm ức chế (I%) |
IC50 (µg/mL) | |||||
|
250 µg/mL |
100 µg/mL |
50 µg/mL |
25 µg/mL |
10 µg/mL | ||||
|
1 |
Nghệ trắng |
Củ |
86,5 ± 1,8 |
66,1 ± 2,4 |
59,3 ± 1,7 |
50,7 ± 3,6 |
38,0 ± 4,4 |
22,5 |
|
2 |
Trâm bầu |
Thân |
90,4 ± 1,0 |
56,5 ± 1,3 |
48,6 ± 1,4 |
40,5 ± 1,1 |
31,1 ± 1,4 |
58,5 |
|
3 |
Sến đỏ |
Thân |
83,2 ± 1,9 |
54,2 ± 1,9 |
43,2 ± 1,1 |
30,9 ± 1,9 |
13,6 ± 1,6 |
80,8 |
|
4 |
Chè xanh |
Lá |
89,5 ± 2,9 |
56,3 ± 3,2 |
22,5 ± 0,9 |
15,5 ± 2,6 |
2,9 ± 0,7 |
86,6 |
|
5 |
Móc mèo |
Hạt |
75,9 ± 3,5 |
51,2 ± 0,4 |
23,6 ± 1,2 |
15,5 ± 0,7 |
2,4 ± 0,8 |
97,7 |
|
6 |
Khế chua |
Lá |
65,8 ± 1,0 |
36,8 ± 3,6 |
24,2 ± 0,6 |
16,6 ± 2,4 |
6,6 ± 3,0 |
173,4 |
|
7 |
Sao đen |
Quả |
58,5 ± 1,6 |
34,2 ± 5,2 |
21,7 ± 2,5 |
8,1 ± 1,8 |
– |
184,5 |
|
8 |
Trâu cổ |
Thân |
53,8 ± 4,2 |
33,3 ± 1,0 |
15,2 ± 1,8 |
4,3 ± 2,0 |
– |
219,1 |
|
9 |
Nghệ đen |
Củ |
56,9 ± 2,5 |
20,3 ± 3,8 |
14,6 ± 3,1 |
5,6 ± 2,4 |
– |
221,2 |
|
10 |
Đậu phộng |
Vỏ hạt |
55,2 ± 1,3 |
25,1 ± 1,0 |
10,5 ± 3,5 |
1,8 ± 1,0 |
– |
223,2 |
|
11 |
Ngải đen |
Củ |
52,6 ± 1,3 |
28,0 ± 2,3 |
16,3 ± 3,0 |
6,0 ± 0,4 |
– |
232,5 |
|
12 |
Khế chua |
Hoa |
50,2 ± 2,6 |
24,1 ± 1,7 |
11,9 ± 1,5 |
1,7 ± 3,4 |
– |
234,1 |
|
13 |
Gừng dại |
Củ |
52,1 ± 3,5 |
23,8 ± 1,6 |
15,2 ± 0,6 |
6,5 ± 3,6 |
– |
237,1 |
|
14 |
Nghệ vàng |
Củ |
54,0 ± 1,6 |
21,4 ± 3,8 |
11,9 ± 2,7 |
3,1 ± 2,7 |
– |
238,1 |
|
15 |
Mướp đắng |
Quả |
52,0 ± 2,6 |
21,7 ± 4,3 |
9,04 ± 2,1 |
3,4 ± 0,7 |
– |
238,4 |
|
Hydroxyurea* |
6,5 | |||||||
KẾT LUẬN
Nghiên cứu thực hiện sàng lọc hoạt tính ức chế enzyme urease đã tìm thấy 15/46 mẫu cao chiết tiềm năng từ 44 loài được chọn lựa thu hái ở các tỉnh thành Tây Nguyên và Nam Bộ. Thử nghiệm tiếp theo đã xác định 5 loài thực vật có tác dụng ức chế mạnh enzyme urease với giá trị IC nhỏ hơn 100µg/mL là củ Nghệ trắng (C. aromatica), thân Trâm bầu (C. quadrangulare), thân Sến đỏ (S. roxburghii), lá Chè xanh (C. sinensis) và hạt Móc mèo (C. bonducella). Trong đó, củ Nghệ trắng có hoạt tính mạnh nhất với giá trị IC là 22,5 µg/mL, so với chất đối chứng dương hydroxyurea (IC= 6,5 µg/mL), có tiềm năng trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày do vi khuẩn H.pylori gây ra. Ngoại trừ lá Chè xanh, đây là công bố mới nhất về khả năng ức chế enzyme urease của các dược liệu còn lại. Cây Trâm bầu, Sến đỏ và Móc mèo lần đầu tiên được tìm thấy tác dụng ức chế enzyme urease, đây là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo giúp tìm ra dược liệu có khả năng điều trị bệnh viêm loét dạ dày do H.pylori.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Chương trình mã số NCM 2020-18-01.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
H.pylori: Helicobacter pylori
IC: là nồng độ mà tại đó ức chế 50% hoạt tính của enzyme
PPLC1: Phương pháp lựa chọn dược liệu theo các nghiên cứu trước đây về ức chế enzyme urease và vi khuẩn H.pylori
PPLC2: Phương pháp lựa chọn dược liệu theo công dụng dân gian liên quan đến bệnh viêm loét dạ dày và các bệnh liên quan
PPLC3: Phương pháp lựa chọn dược liệu theo ngẫu nhiên
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Các tác giả cam đoan không có bất kỳ xung đột lợi ích nào trong bài nghiên cứu này.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Lê Hữu Thọ thử nghiệm hoạt tính sinh học, xử lý số liệu và viết bản thảo. Nguyễn Xuân Hải định hướng sàng lọc và thu thập nguyên vật liệu nghiên cứu. Lê Minh Khang và Trương Thành Nhân thử nghiệm hoạt tính sinh học. Đỗ Văn Nhật Trường điều chế cao chiết. Nguyễn Thị Thanh Mai và Nguyễn Trung Nhân phân bố cục và chỉnh sửa bản thảo chi tiết. Tất cả các tác giả đã đọc và chấp nhận bản thảo cuối cùng.