A syntax‒aware deep‒learning model for biomedical semantic role labelling
- Faculty of Information Technology, University of Sciences, Ho Chi Minh City, Vietnam
- Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam
- Antsomi Vietnam Company Limited, Vietnam
Abstract
A deep learning model for biomedical semantic role labeling was build. Semantic role labeling is a useful task that enables the computer to comprehend the key facts expressed in each sentence, and is a necessary first step in the resolution of several other semantic-related tasks, such as event extraction, entity extraction, and Q-A systems... Semantic role labeling is a domain-dependent task. In the biomedical field, semantics are transmitted via more intricate grammatical structures and dependencies in addition to being built on a predicate argument frameset that differs greatly from that of the general domain. To effectively account for these unique characteristics, three types of information were integrated into this deep learning model: Context knowledge obtained from a pre-trained language model trained on a substantial corpus of biomedical texts, dependencies derived from the dependency parse trees and sentence structure obtained from constituency parse trees. To handle grammatical information that is naturally represented as graphs, the Graph Attention Network which is well-known for its remarkable graph learning capabilities, was used. To further boost the model effectiveness, predicate indicator embedding was additionally included in the proposed model. According to experimental findings, the two above-indicated forms of syntactic information along with the predicate indicator embedding, could boost F1 by up to 20%.
Giới thiệu
Ngành Y Sinh (Biomedicine) đã xác định được thế mạnh là chăm sóc sức khỏe con người 1, 2. Vai trò của Y Sinh càng thể hiện rõ hơn trong đại dịch Covid-19, khi mà những nghiên cứu về Sinh học Phân tử, nhất là về vật chất di truyền, đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, ngành khoa học này đã thu hút nhiều nghiên cứu, và vì thế kho tri thức Y Sinh càng được tích lũy nhiều đến mức đã vượt quá khả năng khai thác thủ công của con người3. Việc khai thác kho văn bản to lớn này, thí dụ như kho văn bản của cơ sở dữ liệu MEDLINE, bằng sức mạnh điện toán mở ra nhiều triển vọng khai phá hiệu quả tri thức trong ấy để giúp ích trong chẩn đoán và điều trị bệnh4, 5.
Để làm được điều này, trước tiên máy tính phải hiểu được từng sự kiện được nói đến trong mỗi câu. Các sự kiện này được chuyển tải thông qua một cấu trúc bao gồm động từ chính trong câu, gọi là vị ngữ (predicate) và tất cả các đối tượng xoay quanh động từ này trong câu, gọi là các đối số (argument). Toàn bộ cấu trúc này gọi là cấu trúc đối số vị ngữ (Predicate Argument Structure – PAS). Do đó, tác vụ gán nhãn PAS cho văn bản là một tác vụ thiết thực. Tác vụ này còn được gọi là tác vụ gán nhãn ngữ nghĩa (Semantic Role Labelling – SRL) vì mỗi đối số trong PAS đều có một vai trò ngữ nghĩa kèm theo.
Tác vụ SRL không phải một bài toán mới mẻ trên văn bản tổng quát. Tuy nhiên, đây vẫn là một tác vụ nhiều thách thức đối với văn bản Y Sinh vì ngữ liệu gán nhãn sẵn ít ỏi và PAS trong Y Sinh có nhiều đặc thù khác xa trong văn bản tổng quát khiến cho việc thiết kế đặc trưng khó khăn hơn. Vì thế, một mô hình học sâu dựa trên mô hình ngôn ngữ tiền huấn luyện cần phải có để khắc phục tất cả những khó khăn này 6. Quan trọng hơn, tri thức về cú pháp đóng vai trò rất tích cực trong tác vụ SRL7, 8, 9. Vì vậy, một giải pháp nhúng toàn diện tri thức cú pháp được đề nghị để nâng cao hiệu quả của mô hình. Kết quả thử nghiệm của chúng tôi trên bộ ngữ liệu PASBio+ cho thấy hiệu ứng khác nhau mà các loại tri thức ngữ pháp khác nhau tác động lên dự đoán của mô hình SRL trên văn bản Y Sinh. Các giải pháp đã đóng góp gồm có: (i) Đề xuất một mô hình học sâu cho tác vụ SRL trên văn bản Y Sinh dựa trên việc tinh chỉnh (fine tuning) một kiến trúc transformer mạnh mẽ được tiền huấn luyện trên ngữ liệu lớn của ngành Y Sinh; (ii) Thông tin cú pháp đóng vai trò rất quan trọng trong SRL10, vì vậy, đề xuất giải pháp nhúng hai loại cây cú pháp là cây quan hệ phụ thuộc (dependency parse tree) và cây ngữ pháp thành phần (constituency-based parse tree) vào mô hình học sâu để nâng cao hiệu quả gán nhãn ngữ nghĩa của mô hình; (iii) Thông qua thực nghiệm, đã phân tích tầm ảnh hưởng của hai loại cây cú pháp này lên tác vụ SRL khi sử dụng riêng lẻ và khi sử dụng kết hợp.
Bài báo này được trình bày như sau: Phần Cơ sở lý thuyết về cấu trúc đối số vị ngữ cung cấp những khái niệm nền tảng về cấu trúc đối số vị ngữ và sự khác biệt giữa lĩnh vực tổng quát với lĩnh vực Y Sinh, đồng thời phân tích một số bộ ngữ liệu hiện có. Phần Những nghiên cứu về SRL khái quát hiện trạng nghiên cứu của tác vụ gán nhãn ngữ nghĩa và nhấn mạnh vai trò của tri thức ngữ pháp trong tác vụ này. Phần Phương pháp thực hiện mô tả chi tiết mô hình đãi đề xuất. Kết quả thử nghiệm và những thảo luận liên quan được trình bày trong phần Kết quả thực nghiệm và thảo luận. Sau cùng, phần Kết luận khái quát lại những kết quả đạt được và đề xuất hướng phát triển.
Cơ sở lý thuyết về cấu trúc đối số vị ngữ
Trong Xử lý ngôn ngữ tự nhiên, cấu trúc đối số vị ngữ (PAS) là cách biểu diễn mối quan hệ giữa vị ngữ (thành phần cốt lõi của câu diễn tả một hành động hoặc trạng thái) và một khung đối số (frameset) chứa các đối số đi kèm (các thành phần trong câu biểu thị các thực thể liên quan đến vị ngữ). Mỗi đối số được gán nhãn với vai trò ngữ nghĩa (semantic role) của nó để mô tả vai trò của đối số ấy trong hành động hoặc trạng thái mà vị ngữ chuyển tải.
Thí dụ: Xét câu “Dennis borrowed this book from Janes”, câu này có PAS gồm vị ngữ là động từ “borrow” và ba đối số xoay quanh vị ngữ là:
Đối số 0: “Dennis” (Vai trò ngữ nghĩa: Người mượn).
Đối số 1: “this book” (Vai trò ngữ nghĩa: Vật được mượn).
Đối số 2: “Janes” (Vai trò ngữ nghĩa: Người cho mượn).
Thí dụ trên cho thấy chỉ cần nhận biết được PAS là máy tính đã nắm hết nội dung chính của câu. Trong lĩnh vực tổng quát, có một số bộ ngữ liệu gán nhãn PAS đã được xây dựng như FrameNet, VerbNet và PropBank 11, 12, 13. Trong đó, PropBank định nghĩa bộ đối số chi tiết nhất cho từng vị ngữ.
Trong lĩnh vực Y Sinh, PAS có nhiều khác biệt so với PAS trong lĩnh vực tổng quát, và thường thấy nhất là khác biệt về vai trò ngữ nghĩa của các đối số. Xét động từ “mutate” làm thí dụ, đối số của động từ này trong lĩnh vực tổng quát và lĩnh vực Y Sinh có vai trò ngữ nghĩa hoàn toàn khác nhau. Trong lĩnh vực tổng quát, các đối số liên quan động từ “mutate” có ngữ nghĩa là: Tác nhân gây thay đổi, vật bị thay đổi, trạng thái trước thay đổi, trạng thái sau thay đổi13. Trong khi đó, với lĩnh vực Y sinh, các đối số liên quan động từ “mutate” lại có ngữ nghĩa là: Vị trí xảy ra đột biến (mô hoặc tạng), gene bị đột biến, hậu quả về kiểu gene, hậu quả về kiểu hình5.
Nhận thấy những khác biệt đó, một số bộ ngữ liệu PAS chuyên biệt cho lĩnh vực Y Sinh đã được xây dựng. Nếu như PAS tổng quát định nghĩa khung đối số cho tất cả động từ trong từ điển thì PAS trong Y Sinh chỉ chú ý những vị ngữ quan trọng trong văn bản Y Sinh, là những động từ truyền tải các sự kiện Y Sinh quan trọng (như đột biến, mã hóa, giải mã, biểu hiện…). Tuy nhiên, chưa có một sự thống nhất chung giữa các công trình về danh sách các động từ này. Các công trình xây dựng những bộ ngữ liệu PAS cho Y Sinh được biết đến nhiều nhất là BioProp, GREC, BioVerbNet và PASBio+.
BioProp là bộ ngữ liệu gồm 1.635 câu, được trích từ đoạn tóm tắt của 500 công bố khoa học về Y Sinh1. Điểm hạn chế của Bioprop là chỉ có bối cảnh ngữ liệu là Y Sinh, còn bộ khung đối số cho từng động từ thì vay mượn hoàn toàn từ PropBank. Do đó, các bộ khung đối số của BioProp thực chất là khung đối số tổng quát chứ không phải khung đối số Y Sinh.
GREC là bộ ngữ liệu bao gồm 1.489 câu, được trích từ đoạn tóm tắt của 677 công bố khoa học về Y Sinh14. So với BioProp, GREC vượt trội ở chỗ vị ngữ không chỉ bao gồm động từ mà còn có cả các danh động, với bộ đối số được định nghĩa chuyên biệt cho lĩnh vực Y Sinh. Ngoài ra, bộ ngữ liệu GREC còn được gán nhãn thực thể Y Sinh (Bio Named Entity). Tuy nhiên, hạn chế của GREC là không định nghĩa mối quan hệ giữa đối số và vị ngữ. Nói cách khác, GREC định nghĩa tập hợp vị ngữ và tập hợp đối số Y Sinh là hai tập hợp độc lập được phân bố ngẫu nhiên trong văn bản mà không có bất kỳ quan hệ nào với nhau.
BioVerNet là thành phần bổ sung của VerbNet, trong đó thêm vào những động từ Y Sinh mà VerbNet còn thiếu15. Tuy nhiên, BioVerbNet có hai hạn chế lớn là số câu gán nhãn sẵn quá ít (chỉ gồm 521 câu) và giữ nguyên khung đối số tổng quát kế thừa từ VerbNet.
PASBio+ là bộ ngữ liệu gán nhãn PAS được xây dựng bằng phương pháp bán tự động gồm 2.617 câu16. PASBio+ khắc phục được hạn chế của BioProp và BioVerbNet vì nó dựa trên PASBio, một công trình đặc tả chi tiết từng khung đối số chuyên biệt cho lĩnh vực Y Sinh, không vay mượn đối số của lĩnh vực tổng quát 5. PASBio+ cũng khắc phục được hạn chế của GREC do đã đặc tả được rõ ràng mối liên hệ của từng đối số với vị ngữ của nó. Cuối cùng, PASBio+ vượt trội về mặt kích thước ngữ liệu so với BioProp và GREC với số lượng câu gần như gấp đôi.
Đối với tác vụ SRL, việc lựa chọn khung đối số có thể quyết định toàn bộ quá trình xử lý của mô hình. Sau khi phân tích các ưu và khuyết điểm của các bộ ngữ liệu cùng với khung đối số như trên, PASBio+ với bộ khung đối số PASBio được chọn cho đề ghị này.
Những nghiên cứu về SRL
Thời gian đầu, bài toán SRL được giải bằng hai hướng tiếp cận phổ biến là hướng dựa luật (rule-based) và hướng khớp mẫu (pattern matching). Hướng dựa luật đòi hỏi một bộ luật được viết thủ công bởi chuyên gia nên tốn kém và khó bao phủ hết mọi lối hành văn phong phú của ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, nó phù hợp với các ngôn ngữ và lĩnh vực ít ngữ liệu như tiếng Hà Lan, tiếng Nhật, lĩnh vực Y Sinh…17, 18, 19, 20, 21. Hướng khớp mẫu so khớp các mẫu có sẵn vào văn bản để gán nhãn PAS. Hầu hết các mẫu này có được từ khai khoáng dữ liệu22. Dù vậy, với lĩnh vực Y Sinh vốn dĩ rất ít ngữ liệu để khai khoáng, các bộ mẫu thường có được từ sự biên soạn thủ công bởi chuyên gia, dẫn đến sự tốn kém và tính bao phủ thấp23, 24.
Từ khi học máy (nhất là kỹ thuật học sâu với độ chính xác ấn tượng) ra đời thì các hướng tiếp cận cũ chỉ còn giữ vai trò bổ trợ. Bên cạnh các công trình học sâu nỗ lực tích hợp tri thức cú pháp vào mô hình thì cũng có nhiều công trình học sâu cố gắng tìm hướng đi khác để tránh những xử lý phức tạp liên quan đến cây cú pháp, từ đó hình thành hai hướng đi chính:
Học sâu không nhận biết cú pháp
Do độ khó của tác vụ phân tích cú pháp không thua gì tác vụ SRL, nhiều công trình học sâu đã bỏ qua tri thức về cú pháp để chứng minh phân tích cú pháp không hẳn là điều kiện tiên quyết cho SRL. Khi này, tác vụ SRL được giải như một bài toán sequence-to-sequence thông thường với các mô hình học sâu quen thuộc như RNN, BiLSTM… và các mô hình xác suất cổ điển hỗ trợ ở lớp đầu ra như Softmax, CRF…25, 26. Tuy nhiên, vấn đề mất mát đạo hàm (vanishing gradient) có thể làm giảm hiệu quả của các mô hình. Để giải quyết điều này, nhiều kỹ thuật bổ trợ đã được ứng dụng nhằm khắc phục mất mát đạo hàm, như Kết nối Cao tốc (highway connections) hay thuật toán phân tích ngữ pháp phân loại kết hợp A* (A* CCG Parsing) 9, 27.
Những mô hình học sâu cho tác vụ SRL không nhận biết cú pháp chủ yếu khác nhau ở cách định nghĩa bài toán. Theo đó, có hai hướng định nghĩa phổ biến là hướng cụm từ và hướng phân tích quan hệ phụ thuộc. Hướng cụm từ (span) xem một chuỗi bao gồm một hoặc nhiều từ làm đơn vị xử lý và tập trung vào việc dự đoán xem cụm từ ấy có phải một đối số hay không 9, 25. Hướng còn lại xem tác vụ SRL là một bài toán phân tích quan hệ phụ thuộc. Các công trình theo hướng này cho thấy sự khả thi về việc xây dựng hệ thống gán nhãn ngữ nghĩa theo hướng quan hệ phụ thuộc mà không cần dùng hoặc dùng rất ít thông tin cú pháp28, 29.
Những công trình nêu trên đều chia tác vụ SRL thành hai tác vụ con, đó là xác định vị ngữ và xác định đối số, với hai mô hình con riêng biệt. Sau đó, công trình đầu tiên dùng chung một mô hình để xác định cả vị ngữ lẫn đối số cũng chỉ dựa trên mạng BiLSTM thông thường, nhưng có tăng cường thêm bộ ghi điểm biaffine giúp hợp nhất việc dự đoán vai trò ngữ nghĩa của đối số và nghĩa của vị từ30, 31.
Dù cho những công trình không nhận biết cú pháp cố gắng tìm những phương án bất khả tri cú pháp (syntax agnostic), vai trò của tri thức cú pháp trong tác vụ SRL là không thể phủ nhận và những mô hình theo hướng nhận biết cú pháp vẫn cho hiệu quả trội hơn.
Học sâu có nhận biết cú pháp
Các nghiên cứu theo hướng này đều đồng ý rằng việc phân tích cây phụ thuộc cung cấp hình thức biểu diễn tốt hơn để gán nhãn vai trò cho các đối số 10. Phương pháp thường thấy là sử dụng một mô hình bổ trợ để tính toán ra dạng biểu diễn cú pháp phù hợp và nhúng vec-tơ này vô dữ liệu đầu vào của mô hình SRL32, 33. Từ đó, nhiệm vụ nhúng tri thức cú pháp được chia thành hai nhiệm vụ con là mã hóa cây cú pháp và nhúng vec-tơ biểu diễn cú pháp vào mô hình SRL.
Để mã hóa cây cú pháp, nhiều mô hình đặc biệt đã được đề xuất. Trong số đó, TreeLSTM là mô hình tiên phong, nó là một biến thể của mạng LSTM với khả năng mã hóa cây phụ thuộc với các yếu tố phân nhánh tùy ý 34. Các mô hình mã hóa thông tin cú pháp trên đây chủ yếu được thiết kế để tạo ra các biểu diễn cú pháp ở cấp độ câu hoặc ngữ. Đối với những mô hình SRL định nghĩa tác vụ như một bài toán sequence-to-sequence thì việc biểu diễn thông tin cú pháp ở cấp độ từ sẽ phù hợp hơn. Mạng Tích chập Đồ thị (Graph Convolutional Network, GCN) hứa hẹn đáp ứng được điều này. GCN là một loại mạng nơ-ron hoạt động dựa trên đồ thị, phù hợp cho việc mô hình hóa đồ thị cú pháp. Với mỗi nốt trên đồ thị (trong trường hợp tác vụ SRL là mỗi từ trong câu), GCN mã hóa thông tin liên quan về các nốt gần đó như là 1 vector. GCN có hai biến thể chuyên biệt vào hai loại cú pháp quan trọng. Mạng Tích chập Đồ thị Cú pháp (Syntactic Graph Convolutional Network, SGCN) dùng để mã hóa quan hệ phụ thuộc 35. Mạng Tích chập Đồ thị Chuỗi từ (Span Graph Convolutional Network, SpanGCN) sử dụng để mã hóa các cấu trúc thành phần câu (constituent)36. Kết quả là mỗi từ trong câu đều có được một vector mã hóa tất cả những mối quan hệ cú pháp liên quan đến nó. Các vector này có thể được mô hình SRL sử dụng làm dữ liệu đầu vào như các vector nhúng từ (word embedding) thông thường.
Để nhúng vector mã hóa cú pháp vào mô hình SRL, công trình tiên phong sử dụng Mô hình Bộ nhớ ngắn/dài (LSTM) để mã hóa mối quan hệ phụ thuộc giữa vị ngữ và các đối số của nó rồi nhúng vector mã hóa vào mô hình SRL như một vector nhúng câu (sentence embedding)32. Mô hình Bộ nhớ ngắn/dài nhận biết cú pháp (Syntax-aware Long Short Term Memory, SA-LSTM) đóng góp một cải tiến, mô hình này học cho mỗi loại quan hệ phụ thuộc một trọng số riêng, từ đó có thể chỉ ra tầm quan trọng của từng loại quan hệ phụ thuộc khác nhau trong tác vụ SRL 33.
Việc phân tích cú pháp không chỉ phức tạp về tính toán mà còn kéo dài thời gian xử lý. Vì vậy, một số nghiên cứu đã tránh phân tích cú pháp bằng cách chọn tập trung học các nhãn phụ thuộc, với khả năng cung cấp thông tin quan trọng cho vai trò ngữ nghĩa, mà không cần sử dụng biểu diễn cú pháp đầy đủ của câu37, 38. Bản chất của các công trình này là mô hình học đa tác vụ (multi-task learning). Trong đó, tác vụ chính là SRL và tác vụ phụ là phân tích cú pháp. Tri thức học được tự tác vụ phụ sẽ bổ trợ tích cực cho tác vụ chính.
Tóm lại, các công trình nêu trên đều cho thấy tri thức cú pháp đóng góp tích cực cho tác vụ SRL. Trong đó, các thuộc tính cú pháp phụ thuộc và ngữ pháp thành phần nhận được phần lớn sự chú ý do sự liên quan chặt chẽ của chúng với PAS.
phương pháp thực hiện
Tri thức cú pháp được sử dụng
Hai loại cây cú pháp phổ biến nhất trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên để nhúng vào mô hình SRL đã được lựa chọn trong đề xuất này: Cây quan hệ phụ thuộc (dependency parse tree) và cây ngữ pháp thành phần (constituency-based parse tree).
Cây ngữ pháp thành phần trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên phản ánh cấu trúc ngữ pháp của một câu dựa trên các bộ phận cấu thành câu ấy. Trong cây ngữ pháp thành phần, câu được chia lại được quy thành các đơn vị hoặc thành phần nhỏ hơn. Các thành phần này bao gồm các cụm từ, mệnh đề và các đơn vị ngữ pháp khác được tạo nên bởi các từ trong câu. Xét câu sau trong bộ ngữ liệu PASBio+ làm thí dụ: “Patient 1 has a G-to-A transition at the first nucleotide of intron 2”. Câu này có cây ngữ pháp thành phần như minh họa trong Figure 1 dưới đây.

Cây ngữ pháp thành phần của một thí dụ từ PASBio+
Cây quan hệ phụ thuộc là một dạng đồ thị được sử dụng trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên để phân tích mối quan hệ giữa các từ trong câu. Trong đồ thị này, mỗi từ trong câu được biểu diễn dưới dạng một nút và mối quan hệ giữa chúng được biểu diễn thành các cạnh. Các cạnh này biểu thị các mối quan hệ ngữ pháp khác nhau giữa các từ, chẳng hạn như chủ ngữ/tân ngữ, từ bổ nghĩa/đầu tố. Cũng với câu thí dụ trên, cây quan hệ phụ thuộc được minh họa trong Hình 2.

Cây quan hệ phụ thuộc của một thí dụ từ PASBio+
Mô hình được đề xuất
Dữ liệu đầu vào của mô hình SRL gồm hai loại tri thức: Tri thức ngữ cảnh của từ trong câu và tri thức cú pháp (bao gồm hai loại cây cú pháp nêu trên). Hai loại tri thức này được mã hóa thành bộ nhúng ngữ cảnh và bộ nhúng cú pháp (tất cả đều ở mức từ). Hai loại vector này được nối (concatenating) lại với nhau thành một vector duy nhất đưa vào mô hình xử lý trung tâm trước khi đi qua lớp softmax để tính toán phân bố xác suất cuối cùng cho các nhãn. Ngoài ra, ma trận liền kề cũng được sử dụng giúp cho mô hình xử lý trung tâm nắm bắt được vị trí các từ có liên quan với nhau trong câu. Kiến trúc tổng thể của mô hình được minh họa trong Figure 3.

Kiến trúc tổng thể của mô hình
Mã hóa ngữ cảnh
Mã hóa ngữ cảnh là tạo ra một vector biểu diễn cho một từ w, trong đó thâu tóm toàn bộ thông tin về tầm ảnh hưởng của các từ khác trong câu lên việc phân loại từ w đang xét. Lĩnh vực Y Sinh là một lĩnh vực hạn chế về tài nguyên ngôn ngữ. Một bộ ngữ liệu lớn gán nhãn SRL là không sẵn có. Bộ ngữ liệu huấn luyện PASBio+ cũng chỉ có hơn 2.600 câu, một kích thước chấp nhận được nhưng không phải tối ưu. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả gán nhãn ngữ nghĩa, cần tận dụng sức mạnh của các mô hình ngôn ngữ được tiền huấn luyện trên ngữ liệu chuyên ngành với kích thước khổng lồ để tạo ra vector mã hóa ngữ cảnh chất lượng. Trong đề xuất này, BioBERT được lựa chọn làm bộ mã hóa ngữ cảnh cho mô hình 39. Lựa chọn này đến từ ba lý do: (i) BioBERT được huấn luyện trên ngữ liệu Y Sinh nên hỗ trợ tốt cho tác vụ SRL trên văn bản Y Sinh; (ii) Bản chất BioBERT dựa trên cơ chế self-attention và chính là mô hình transformer, một mô hình mạnh mẽ với độ chính xác ấn tượng trong hàng loạt tác vụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên gần đây 40; (iii) BioBERT sử dụng thuật toán Wordpiece để giảm thiểu vấn đề không tìm thấy từ vựng, một vấn đề thường gặp đối với văn bản Y Sinh vốn chứa nhiều chuỗi ký hiệu đặc biệt của chuyên ngành.
Mã hóa các cây quan hệ phụ thuộc
Trước tiên, sử dụng thư viện SpaCy để phân tích mỗi câu thành một cây quan hệ phụ thuộc41. Dựa trên cây quan hệ phụ thuộc này, với mỗi từ w trong câu, hai vector được sử dụng để mã hóa các quan hệ phụ thuộc liên quan w:
i) Bộ nhúng quan hệ phụ thuộc là một vector dạng one-hot có 46 chiều, bao gồm 10 chiều đầu tiên mã hóa từ loại của w, 18 chiều tiếp theo mã hóa quan hệ phụ thuộc đi ra từ w, và 18 chiều cuối cùng mã hóa quan hệ phụ thuộc đi vào w. Sở dĩ có số chiều như vậy là vì cây quan hệ phụ thuộc của SpaCy có 10 nhãn từ loại phân biệt và 18 nhãn quan hệ phụ thuộc phân biệt (Phụ lục A).
ii) Ma trận kề là một vector 2 chiều dạng one-hot, trong đó giá trị 1 tại vị trí dòng i cột j thể hiện rằng từ w có quan hệ phụ thuộc đến từ w. Còn muốn biết cụ thể w phụ thuộc vào w bằng mối quan hệ gì thì chỉ cần tra qua bộ nhúng quan hệ phụ thuộc của w và w sẽ rõ. Hai vector này, cùng với bộ nhúng ngữ cảnh bởi BioBERT, đều được sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho mô hình xử lý trung tâm để giải bài toán SRL.
Mã hóa cây ngữ pháp thành phần
Sử dụng thư viện NLTK để phân tích mỗi câu thành một cây ngữ pháp thành phần42. Sau đó, tương tự như việc mã hóa cây quan hệ phụ thuộc nêu trên, cây ngữ pháp thành phần cũng được mã hóa thành hai vector là Bộ nhúng ngữ pháp thành phần và Ma trận kề để đưa vào mô hình xử lý trung tâm nhằm giải bài toán SRL. Ma trận kề ở bước này có nguyên lý hoàn toàn giống với ma trận kề của bộ mã hóa cây quan hệ phụ thuộc. Còn Bộ nhúng ngữ pháp thành phần của một từ w trong câu là một vector one-hot với giá trị 1 tại vị trí i và tại tất cả vị trí lân cận của i mà ứng với những từ khác nằm trong cùng một ngữ (phrase) với w, và giá trị 0 ở các vị trí còn lại (Phụ lục B).
Mã hóa vị trí vị ngữ
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của vị ngữ đối với việc xác định đối số, sử dụng Nhúng chỉ định vị ngữ (Predicate Indicator Embedding) để tăng cường sự đóng góp của vị ngữ 9. Trước tiên, tạo một vector one-hot với giá trị 1 đánh dấu vị trí của vị ngữ trong câu và giá trị 0 ở những vị trí còn lại. Sau đó, vector one-hot này được nối với bộ nhúng thông tin cú pháp rồi đưa tới các bước tính toán tiếp theo. Thông tin này có thể giúp quá trình mã hóa có thể tạo ra các bộ biểu diễn hàm chứa vị trí cụ thể của vị ngữ, từ đó giúp tăng hiệu quả cho mô hình 43.
Mô hình xử lý trung tâm
Vì các bộ nhúng cú pháp mang thông tin mã hóa từ cấu trúc đồ thị, nên các loại mạng neuron truyền thống gặp phải hạn chế lớn là là chúng bỏ qua tất cả các kết nối giữa các nút trong đồ thị mà chỉ đơn thuần đưa ra quyết định dựa vào các đặc trưng được lưu cục bộ ở bản thân từng nút. Do đó, Mạng Neuron Đồ thị (Graph Neural Network, GNN) có thể phù hợp hơn khi xử lý trên các bộ nhúng cú pháp 35. Từ cơ chế truyền thông điệp của GNN nguyên thủy, nhiều biến thể cải tiến đã ra đời, trong đó biến thể có tích hợp cơ chế attention chính là Mạng Đồ thị Chú ý (Graph ATtention network, GAT)44. Cơ chế attention đã chứng tỏ được sức mạnh vượt trội trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Vì lý do nêu trên, GAT được lựa chọn làm mô hình xử lý trung tâm của đề xuất này. Bộ đặc trưng cuối cùng sau khi được GAT học từ các bộ nhúng ngữ cảnh và cú pháp sẽ được đưa vào hàm softmax để tính phân bố xác suất của các nhãn ngữ nghĩa đầu ra cuối cùng.
Kết quả và thảo luận
Dữ liệu thử nghiệm của đề xuất này là PASBio+, một bộ ngữ liệu gán nhãn PAS được xây dựng bằng phương pháp bán tự động gồm 2617 câu 16. PASBio+ được gán nhãn dựa trên bộ khung đối số PASBio, công trình đặc tả chi tiết cho mỗi động từ một khung đối số chuyên biệt cho lĩnh vực Y Sinh5. Bộ ngữ liệu PASBio+ được chia ra thành 3 tập dữ liệu để huấn luyện, đánh giá và kiểm thử tương ứng theo tỉ lệ 60/20/20. Tất cả mô hình của đề xuất được kiểm thử theo phương pháp kiểm chéo 5 pha (5-fold cross validation) và lấy điểm số trung bình.
Các mô hình thử nghiệm: lần lượt huấn luyện và so sánh năm mô hình: (i) Mô hình 1: Chỉ có mã hóa ngữ cảnh và mã hóa vị trí vị ngữ; (ii) Mô hình 2: Mô hình 1 + thêm mã hóa cây quan hệ phụ thuộc; (iii) Mô hình 3: Mô hình 1 + mã hóa cây ngữ pháp thành phần; (iv) Mô hình 4: Mô hình 1 + mã hóa cây quan hệ phụ thuộc và cây ngữ pháp thành phần; (v) Mô hình 5: Mô hình 1 nhưng không có mã hóa vị trí vị ngữ. Các mô hình trên được chạy trên máy có CPU 16 nhân. Tổng thời gian huấn luyện và kiểm thử được chia đều cho 16 nhân CPU nên thời gian thực chạy nhờ đó mà giảm đi 16 lần.
Kết quả thử nghiệm được trình bày trong Table 1 và Table 2.
Kết quả thực nghiệm thống kê trên toàn bộ ngữ liệu
|
Mô hình |
Precision |
Recall |
F1 |
Tổng thời gian huấn luyện (giờ) |
Tổng thời gian kiểm thử (giờ) |
|
Mô hình 1 |
83,34 |
83,34 |
83,34 |
570 |
35 |
|
Mô hình 2 |
88,41 |
88,41 |
88,41 |
633 |
42 |
|
Mô hình 3 |
90,37 |
90,37 |
90,37 |
642 |
43 |
|
Mô hình 4 |
87,29 |
87,29 |
87,29 |
662 |
45 |
|
Mô hình 5 |
70,10 |
70,10 |
70,10 |
565 |
34 |
Ngoài việc lấy kết quả cho toàn bộ ngữ liệu, điểm F1 cho từng vị ngữ trong danh sách 29 vị ngữ của PASBio cũng được thống kê. Bộ ngữ liệu PASBio+ được tạo ra bằng phương pháp bán tự động, trong đó có những câu tuy khác nhau về nội dung nhưng có cấu trúc ngữ pháp tương tự nhau. Vì vậy, cũng thống kê tỷ lệ cấu trúc ngữ pháp phân biệt trên tổng số câu của từng vị ngữ trong ngữ liệu để làm cơ sở cho phần thảo luận.
Điểm F1 trung bình thống kê cho từng vị ngữ
|
Vị ngữ |
Tỷ lệ biến thể ngữ pháp (%) |
Mô hình 1 |
Mô hình 2 |
Mô hình 3 |
Mô hình 4 |
Mô hình 5 |
|
lead |
12 |
82,97 |
95,34 |
91,72 |
89,32 |
68,34 |
|
block |
10 |
82,41 |
90,27 |
89,80 |
87,39 |
70,60 |
|
eliminate |
13 |
78,55 |
87,87 |
87,41 |
79,84 |
65,96 |
|
inhibit |
16 |
76,72 |
80,57 |
84,90 |
80,38 |
68,16 |
|
abolish |
17 |
80,02 |
86,62 |
86,93 |
87,86 |
71,28 |
|
alter |
17,5 |
88,56 |
92,39 |
95,95 |
85,89 |
76,15 |
|
recognize |
18 |
82,18 |
82,20 |
83,04 |
75,19 |
64,33 |
|
result |
18 |
86,40 |
88,78 |
90,52 |
84,27 |
76,72 |
|
delete |
21,5 |
86,73 |
86,84 |
86,84 |
81,26 |
63,88 |
|
lose |
23,5 |
85,61 |
90,81 |
92,03 |
86,92 |
68,51 |
|
begin |
24 |
83,18 |
94,59 |
97,67 |
94,27 |
72,89 |
|
catalyst |
26 |
92,17 |
90,98 |
96,40 |
89,47 |
75,72 |
|
confer |
26 |
82,57 |
91,38 |
94,71 |
86,57 |
72,24 |
|
transform |
29,5 |
76,95 |
90,37 |
92,26 |
80,89 |
71,27 |
|
initiate |
33 |
83,79 |
92,29 |
96,84 |
82,65 |
68,65 |
|
proliferate |
34 |
95,90 |
97,97 |
97,79 |
96,41 |
68,74 |
|
disrupt |
38 |
89,28 |
91,12 |
96,22 |
85,48 |
69,80 |
|
transcribe |
41 |
77,73 |
78,36 |
79,10 |
78,93 |
72,21 |
|
truncate |
57 |
86,67 |
93,09 |
96,66 |
88,63 |
68,34 |
|
mutate |
57,5 |
72,25 |
78,14 |
78,34 |
73,08 |
65,08 |
|
splice |
70,5 |
89,14 |
88,67 |
96,63 |
86,36 |
73,13 |
|
skip |
74,5 |
86,54 |
95,16 |
94,16 |
94,19 |
65,63 |
|
translate |
75,5 |
84,67 |
90,86 |
92,45 |
94,72 |
72,10 |
|
decrease |
80,5 |
83,52 |
91,43 |
92,83 |
94,91 |
72,13 |
|
develop |
81 |
92,54 |
93,84 |
93,98 |
95,43 |
70,57 |
|
express |
85 |
72,81 |
81,58 |
88,40 |
98,50 |
65,96 |
|
generate |
86 |
76,22 |
77,27 |
80,47 |
92,58 |
69,95 |
|
modify |
91,5 |
83,29 |
88,91 |
89,05 |
92,75 |
66,64 |
|
encode |
97,5 |
77,47 |
72,18 |
77,83 |
87,22 |
67,92 |
Kết quả thực nghiệm tổng quát (Table 1) cho thấy việc nhúng tri thức cú pháp giúp tăng F1 đáng kể. Trong đó, cây ngữ pháp thành phần cải thiện mô hình tốt nhất, giúp F1 tăng 6%, trội hơn cây quan hệ phụ thuộc 1,96%. Điều này cho thấy tuy cả hai loại cây cú pháp đều hữu ích nhưng tri thức từ cây ngữ pháp thành phần thực sự hữu ích hơn tri thức từ cây quan hệ phụ thuộc. Tuy nhiên, ngữ pháp thành phần đòi hỏi thời gian xử lý cao hơn quan hệ phụ thuộc, đây là sự đánh đổi cần cân nhắc khi triển khai vào ứng dụng thực tế. Ngoài ra, sự kết hợp 2 loại cú pháp (Mô hình 4) tuy đòi hỏi thời gian xử lý dài nhất nhưng hiệu quả thấp hơn các mô hình chỉ nhúng một loại cú pháp. Điều này có thể là do việc nhúng cả hai loại ngữ pháp gây ra phần nhiễu trội hơn phần tri thức hữu ích, dẫn tới hiệu quả mô hình giảm xuống. Đáng chú ý nhất là đóng góp vượt trội của Nhúng chỉ định vị ngữ (Predicate Indicator Embedding), thể hiện ở chỗ Mô hình 5 bị giảm F1 đến hơn 13% so với Mô hình 1 chỉ vì bị vắng mặt Nhúng chỉ định vị ngữ. Công trình của này có thể là công trình đầu tiên đưa Nhúng chỉ định vị ngữ vào SRL. Điều này có được nhờ thuận lợi của lĩnh vực Y Sinh chỉ tập trung vào một bộ vị ngữ hữu hạn do PASBio chỉ định.
Khi xét hiệu quả mô hình trên từng vị ngữ (Table 2), nhận thấy có sự phân hóa khá rõ rệt. Một số vị ngữ cải thiện F1 vượt bậc sau khi được nhúng cú pháp, như các vị ngữ express (tăng từ 72,8 lên 98,5), transform (tăng từ 76,9 lên 92,2) hay eliminate (tăng từ 78,5 lên 87,8). Khi xem xét ngữ liệu huấn luyện của các vị từ này, nhận thấy chúng hầu như luôn là động từ chính trong câu, nghĩa là làm trung tâm của các cây cú pháp. Vì vậy, các cây cú pháp này dễ dàng hỗ trợ mô hình xác định các đối số xung quanh tốt hơn.
Vị ngữ mutate có F1 trung bình thấp nhất, nguyên nhân chủ yếu do mutate trong văn bản Y sinh có 3 dạng khác nhau: mutate, mutation, và mutated. Do đó, trong câu nó vừa có thể là danh từ, hoặc động từ, hoặc tính từ, gây khó khăn cho mô hình xử lý trung tâm. Ngược lại, vị ngữ proliferate có F1 trung bình cao nhất bởi vì trong dữ liệu huấn luyện, đối số của nó vừa ít nhất, vừa ngắn nhất. Tác vụ SRL cho proliferate nhờ vậy mà đơn giản hơn các vị ngữ khác.
Ngoài ra, hai vị ngữ là splice và catalyst có F1 ở mô hình 2 thấp hơn mô hình 1, cho thấy quan hệ phụ thuộc bị phản tác dụng. Khi phân tích ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy quan hệ phụ thuộc của hai vị ngữ này khá phức tạp. Figure 4 và Figure 5 dưới đây đơn cử thí dụ về cây quan hệ phụ thuộc của splice và catalyst, qua đó cho thấy chúng có đồng thời khoảng một chục quan hệ phụ thuộc, phần lớn trong số đó không liên quan đến đối số, dẫn tới gây nhiễu đáng kể cho mô hình.

Một cây quan hệ phụ thuộc của vị ngữ splice

Một cây quan hệ phụ thuộc của vị ngữ catalyst
Một điều đáng chú ý là ảnh hưởng của tỷ lệ biến thể ngữ pháp phân biệt trong ngữ liệu. Trái ngược với phần lớn các vị ngữ, một ít vị ngữ có tỷ lệ biến thể ngữ pháp trong ngữ liệu thấp nhất, dưới 15% (vùng tô xám ở đầu ảng 2) lại cho F1 ở Mô hình 2 cao hơn Mô hình 3. Điều này cho thấy số biến thể ngữ pháp nghèo nàn đã dẫn đến việc trích xuất các đặc trưng về ngữ pháp thành phần không đem lại nhiều ý nghĩa bằng quan hệ phụ thuộc, và cũng cho thấy chất lượng của quan hệ phụ thuộc không nhạy cảm với tỷ lệ biến thể ngữ pháp trong ngữ liệu.
Cuối cùng, đối với các vị ngữ có tỷ lệ biến thể ngữ pháp cao nhất, trên 75% (vùng tô xám ở cuối ảng 2), kết quả của Mô hình 4 lại là kết quả cao nhất. Điều này cho thấy rằng một lượng biến thể ngữ pháp phong phú sẽ hỗ trợ mô hình trung tâm học được cách phối hợp hiệu quả giữa quan hệ phụ thuộc với ngữ pháp thành phần, từ đó giúp cho Mô hình 4 đạt F1 cao nhất.
Kết luận
Một mô hình học sâu cho tác vụ SRL trên văn bản Y Sinh đã được xây đựng, trong đó kết hợp ba loại tri thức là tri thức ngữ cảnh từ mô hình ngôn ngữ tiền huấn luyện, tri thức quan hệ phụ thuộc, và tri thức ngữ pháp thành phần. Kết quả thực nghiệm cho thấy trên tổng quát thì tri thức ngữ pháp thành phần cải thiện mô hình tốt nhất (F1 tăng 6%). Tuy nhiên, ở một số vị ngữ có tỷ lệ biến thể ngữ pháp phong phú trong ngữ liệu thì sự kết hợp cả hai loại tri thức cú pháp phát huy hiệu quả cao nhất và có thể tăng F1 lên tối đa gần 20% (trường hợp vị ngữ translate). Ngoài ra, Nhúng chỉ định vị ngữ cho SRL Y Sinh cũng được thử nghiệm và cho thấy vector này giúp F1 tăng đáng kể (hơn 13%).
Tuy nhiên, mô hình này cần đánh đổi bằng thời gian xử lý khi phải phân tích từng câu ra hai cây cú pháp trước khi có thể đưa vào mô hình. Vì vậy, hướng phát triển là sử dụng học chuyển giao (transfer learning) để tái sử dụng hai loại tri thức cú pháp từ mô hình khác. Điều này sẽ giúp tránh được việc phân tích cú pháp ở pha kiểm thử, từ đó hướng đến triển vọng triển khai vào ứng dụng trong nghiệp vụ thực tế được thuận lợi hơn.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM trong khuôn khổ Đề tài mã số CNTT 2023-01.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PAS: Predicate Argument Structure
SRL: Semantic Role Labelling
GAT: Graph ATtention network
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TÁC GIẢ
Các tác giả tuyên bố rằng họ không có xung đột lợi ích.
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
Tuấn Nguyên Hoài Đức chủ trì đề tài, tiến hành khảo sát hiện trạng, thu thập dữ liệu, phân tích đánh giá giải pháp và viết bài.
Lưu Trường Dương và Huỳnh Quốc Duy tham gia khảo sát hiện trạng, đề xuất giải pháp và lập trình thử nghiệm.
PHỤ LỤC A
Về các nhãn cú pháp liên quan đến cây quan hệ phụ thuộc được phân tích bởi thư viện SpaCy, sau khi sử dụng ngưỡng tần số 1% để lọc, chúng tôi chọn được 10 từ loại thường gặp nhất và 18 quan hệ phụ thuộc phổ biến nhất trong ngữ liệu PASBio+, được trình bày trong Table 3 và Table 4.
10 nhãn từ loại phổ biến trong PASBio+
|
Từ loại |
Ý nghĩa |
Từ loại |
Ý nghĩa |
|
NOUN |
Chỉ một vật hay một người. |
VERB |
Động từ |
|
PROPN |
Chỉ tên của một vật, một người hay một nơi nào đó |
SYM |
Các biểu tượng, ký hiệu như dấu +, dấu %,… |
|
PUNCT |
Dấu chấm câu |
CCONDJ |
Liên từ (như or, and, but) |
|
NUM |
Biểu thị số lượng, tần suất, phân số |
ADP |
Giới từ |
|
ADJ |
Tính từ |
PART |
Các tiểu từ, phải liên kết với từ khác mới có nghĩa như ‘s hay not |
18 nhãn quan hệ phụ thuộc phổ biến trong PASBio+
|
Quan hệ phụ thuộc |
Ý nghĩa |
Quan hệ phụ thuộc |
Ý nghĩa |
|
compound |
Định hình đầu tố (head) của một chuỗi từ ghép |
npadvmod (noun phrase as adverbial modifier) |
Các trường hợp mà cụm danh từ làm bổ ngữ trong câu |
|
punct (punctuation) |
Liên kết giữa một từ và dấu chấm câu |
cc (cooordination) |
Mối quan hệ giữa một yếu tố của liên từ và từ liên kết phối hợp của liên từ |
|
nmod (nominal modifier) |
Phụ thuộc danh nghĩa giữa danh từ với một đặc trưng trong câu |
nsubj (nominal subject) |
Một cụm danh từ là chủ đề cú pháp và là tác nhân khởi đầu (proto-agent) trong mệnh đề |
|
amod (adjectival modifier) |
Bất kỳ cụm tính từ nào dùng để sửa đổi ý nghĩa của cụm danh từ |
dobj (direct object) |
Một cụm danh từ là chủ thể chính của động từ |
|
pobj (object of a proposition) |
Phần đầu tố (head) của cụm danh từ theo sau giới từ hoặc các trạng từ “here” và “there”. |
prep (prepositional modifier) |
Bất kỳ cụm giới từ nào dùng để sửa đổi ý nghĩa của động từ, tính từ, danh từ hoặc thậm chí một giới từ khác |
|
conj (conjunction) |
Mối quan hệ giữa hai yếu tố được nối với nhau bằng liên từ |
nsubjpass (passive nominal subject) |
Một cụm danh từ là chủ thể cú pháp chính của một mệnh đề gián tiếp |
|
appos (appositional modifier |
Một cụm danh từ nằm ngay bên phải của cụm danh từ đầu tiên, dùng để bổ nghĩa cho cụm đó |
acl (clausal modifier of noun) |
Mối quan hệ giữa các mệnh đề hữu hạn hoặc không hữu hạn sửa đổi ý nghĩa một danh từ |
|
det (determiner) |
Mối quan hệ giữa phần đầu tố (head) của cụm danh từ và từ bổ nghĩa cho nó (the, which) |
root |
Gốc của câu |
|
nummod (numeric modifier) |
Bất kỳ cụm số nào dùng để sửa đổi ý nghĩa của danh từ với một số lượng |
case |
Phụ thuộc giữa bất kỳ giới từ nào và danh từ |
PHỤ LỤC B
? liệt kê 10 nhãn ngữ, hay còn gọi là nhãn ngữ pháp thành phần, đại diện cho 10 loại ngữ khác nhau có thể hiện diện trên cây ngữ pháp thành phần.
Các nhãn ngữ (phrase) trong PASBio+
|
Nhãn ngữ pháp thành phần (Constituent tag) |
Ý nghĩa |
Nhãn ngữ pháp thành phần (Constituent tag) |
Ý nghĩa |
|
NP (Noun Phrase) |
Cụm danh từ |
ADJP (Adjective Phrase) |
Cụm tính từ |
|
VP (Predicate) |
Cụm động từ |
PRT (particle) |
Một từ đơn giản, không thể tách ra thêm |
|
PP (Preposition Phrase) |
Cụm giới từ |
INTJ (interjection) |
Từ cảm thán |
|
ADVP (Adverb Phrase) |
Cụm trạng từ |
CONJP (conjunction phrase) |
Cụm liên từ |
|
SBAR (subordinate clause) |
Mệnh đề bắt đầu bằng “that” hoặc một liên từ |
LST (list markers) |
Các dấu câu |
PHỤ LỤC C
Các thông số cấu hình Mô hình xử lý trung tâm khi huấn luyện trên tập ngữ liệu PASBio+:
Các thông số cấu hình khi chạy mô hình
|
Tên thông số |
Giá trị thông số được cấu hình |
|
Số epoch khi train |
50 |
|
Chiều dài tối đa của 1 câu sau khi token hóa bằng WordPiece |
256 |
|
Kích thước của batch |
32 |
|
Hệ số học |
0,00003 |
|
Số GAT head (trong cơ chế multi-head) |
12 |
|
Số đơn vị GAT trong mỗi head |
64 |
|
Số lớp GAT |
1 |
|
Tỉ lệ dropout trong GAT |
0 (không dùng dropout) |
Các mô hình trên được chạy trên máy có cấu hình: Intel(R) Xeon(R) CPU E5-2609 v4 @ 1.70GHz, CPU 16 core, Ram 32 GB.